phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Đề tài được kết cấu thành 4 Chương. Cụ thể: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính tại các trường đại học Chƣơng 2.
Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng quản lý tài chính tại Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN Chƣơng 4. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại trường đại học Công nghệ, ĐHQGHN 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Nghiên cứu về quản lý tài chính trong giáo dục đại học Giáo dục được biết đến như chỉ số chính phản ánh trình độ phát triển của quốc gia, trở thành thiết yếu cho tất cả các chính phủ trên thế giới, coi như khoản đầu tư vào vốn nhân lực và sự giàu có của quốc gia trong tương lai. Do đó, vấn đề tài chính cho giáo dục luôn là yếu tố then chốt và hoạt động quản lý tài chính (QLTC) trong hệ thống giáo dục đại học (GDĐH cũng là mối quan tâm hàng đầu đối với mỗi chính phủ. Báo cáo Ngân hàng Thế giới (1998) trong chương trình cải cách về quản lý tài chính GDĐH, bản chất của cải cách trong QLTC đòi hỏi sự chú ý cả về đầu vào, hoặc chi phí, cũng như đầu ra, hoặc chất lượng học tập và học thuật. Chương trình cải cách để nâng cao chất lượng giáo dục cần phải chú ý đến: (a) dạy hiệu quả, bao gồm các kỹ thuật giảng dạy tốt, nhưng cũng đòi hỏi các tài nguyên giảng dạy phù hợp như thư viện, phòng thí nghiệm, thiết bị khoa học, máy tính và khả năng truy cập internet; (b) một chương trình giảng dạy phù hợp, bao gồm nội dung thách thức trí tuệ, cập nhật và phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức; (c) học tập hiệu quả, bao gồm thời gian làm bài tập phù hợp của học sinh, cũng như khả năng tập trung và tập trung; và (d) một cấu trúc QLTC hiệu quả.
Những nỗ lực hướng tới hiệu quả QLTC, kiểm soát chi phí và tạo nguồn lực có thể đi một chặng đường dài giúp các quốc gia đang phát triển giải quyết các vấn đề liên quan đến tài nguyên và chất lượng của hệ thống GDĐH. Trong QLTC, mặc dù ở các quốc gia khác nhau về chính trị, văn hóa, kinh tế và hệ tư tưởng nhưng chủ yếu tập trung ba loại cải cách chính: (1) bổ sung các khoản thu của chính phủ hoặc chính phủ với phi chính phủ doanh thu; (2) từ chối tài chính khu vực công; và (3) thay đổi căn bản (tái cấu trúc) các trường đại học và các tổ chức GDĐH khác, các khoản thu phi chính phủ chuyển giao gánh nặng chi phí giáo dục cao hơn từ người nộp thuế hoặc công dân nói chung sang phụ huynh và học sinh - đặc biệt là 5 người mua dịch vụ đại học. Khi chính phủ chuyển chi phí cho sinh viên, họ phải giới thiệu một hệ thống hỗ trợ tài chính song song để duy trì khả năng tiếp cận và cung cấp công bằng. Nghiên cứu của Alper Goksu và cộng sự (2015), GDĐH là một hàng hóa hỗn hợp, xem xét thuộc tính, nó là một dịch vụ đóng góp tích cực cho người dùng trực tiếp nhưng gián tiếp cho xã hội.
Vì vậy, điều cần thiết là GDĐH cung cấp cho những người có nhu cầu. Các tổ chức GDĐH nên thúc đẩy sự năng động của phát triển xã hội và dẫn dắt xã hội hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn. Trong nghiên cứu này, so sánh các nguồn lực được phân bổ cho tài chính GDĐH và luận giải sự khác biệt hiện tại trong QLTC. Nghiên cứu này cho thấy thực tế rằng những người tham gia tài trợ GDĐH ở mỗi quốc gia khác nhau và một số quốc gia có hệ thống tài chính riêng biệt trong GDĐH.
Trong khi sự tham gia của khu vực tư nhân tại Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Hàn Quốc quan trọng hơn sự tham gia của khu vực công cộng, thì khu vực công chiếm ưu thế hơn ở hầu hết các nước châu Âu [47]. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về QLTC của các trường đại học theo hai hướng rất rõ ràng là: học thuật và tác nghiệp. Nghiên cứu theo hướng học thuật thì chủ yếu nghiên cứu tài chính công, các nghiên cứu theo hướng tác nghiệp thường nghiên cứu về QLTC trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu tài chính đối với một đơn vị. Một số công trình nghiên cứu về quản lý và kiểm soát tài chính đối với giáo dục đại học của Molcolm Prowle và Eric Morgan (2005).
Sách nghiên cứu những điểm tương đồng và khác biệt về các điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội, môi trường gắn với vấn đề QLTC tại cơ sở giáo dục. Các nước nghiên cứu bao gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philipin, Singapore, Thái Lan, Việt Nam. Công trình nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hỗ trợ của nhà nước trong việc gia tăng năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học quốc gia trong bối cảnh mới [41]. Đồng tác giả Marianne, C.
và Lesley, A (2000) tập trung phân tích một số nội dung chủ yếu sau: quan niệm về nguồn lực giáo dục, các phương thức quản lý nguồn lực. Bài báo cũng đi sâu phân tích thực trạng quản lý các nguồn lực giáo dục đại học, nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn lực tài chính, các loại hình hợp tác quốc tế về giáo dục đại học, những yếu tố cản trở việc mở các khu trường học (campus) nước ngoài tại nước 6 sở tại, nghiên cứu so sánh các chính sách hiện hành và các chính sách khuyến nghị cũng như những điều cần làm để cải thiện tình hình QLTC trong giáo dục đại học [42]. Bùi Tiến Hanh (2007) trong luận án “Hoàn thiện cơ chế QLTC nhằm thúc đẩy xã hội hoá giáo dục ở Việt Nam” đưa ra khái niệm chung về cơ chế QLTC là tổng thể các nguyên tắc, hình thức, phương pháp, biện pháp tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động ở một tổ chức, đơn vị, lĩnh vực kinh tế xã hội. Cơ chế QLTC xã hội hóa giáo dục vừa có thuộc tính khách quan, vừa có thuộc tính chủ quan.
Tính khách quan của cơ chế QLTC xã hội hóa giáo dục là do nó chịu chi phối bởi các nhân tố khách quan (ở tầm vĩ mô đó là các quy luật kinh tế khách quan, cơ chế quản lý kinh tế quốc dân của Nhà nước, thực trạng kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân, phong tục tập quán của dân tộc, trình độ dân trí, xu thế phát triển của thời đại; ở tầm vi mô là các quy luật khách quan của giáo dục, tính chất và đặc điểm của giáo dục, hiện trạng của nền giáo dục quốc dân. Tính chủ quan của cơ chế QLTC xã hội hóa giáo dục là do nó được con người xây dựng để tổ chức, điều chỉnh, kiểm tra, giám sát các hoạt động tài chính diễn ra trong quá trình xã hội hóa giáo dục trên cơ sở nhận thức những nhân tố khách quan [15]. Nghiên cứu cơ chế QLTC đối với các trường đại học, Nguyễn Anh Thái (2008), Hoàn thiện cơ chế QLTC đối với các trường đại học ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) cho rằng cơ chế QLTC trong giáo dục là phương thức Nhà nước sử dụng công cụ tài chính tác động vào hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm định hướng, phát triển giáo dục. Đối với GDĐH thì cơ chế QLTC là tổng thể các phương pháp, hình thức, công cụ được vận dụng để quản lý hoạt động tài chính của các trường đại học trong những điều kiện cụ thể nhằm thực hiện được các mục tiêu trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài có trình độ cao phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ.
Các bộ phận cấu thành của QLTC đối với các trường đại học là: Cơ chế huy động, tạo nguồn lực tài chính; cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính; cơ chế phân phối chênh lệch thu - chi; cơ chế quản lý tài sản và cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính. Các bộ phận cấu thành của cơ chế 7 QLTC được xác định chung cho cả trường ĐHCLvà ngoài công lập nhưng với mỗi loại hình được phân tích với nội dung khác nhau. Khi phân tích cơ chế QLTC của mỗi loại hình thì cơ chế phân phối chênh lệch thu - chi chưa được đề cập đến [30]. Đề án “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009- 2014” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề cập đến cơ chế tài chính cho GDĐT ở tầm vĩ mô như: Xác định các nguồn lực từ ngân sách và xã hội và các giải pháp huy động và sử dụng tài chính khả thi, hiệu quả; nghĩa vụ và quyền hạn về tài chính của các cơ sở giáo dục [4].
Nghiên cứu về quản lý tài chính tại các cơ sở công Những nghiên cứu về tài chính công được khởi nguồn từ nước ngoài và nó được nhiều học giả công bố. Alan (1979), năm 1979 đã tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công “Tài chính công – Lý thuyết và thực tiễn”. Những nội dung cơ bản nhất về tài chính công được tác giả nghiên cứu chi tiết. Trong cuốn sách này tác giả cũng đã nêu một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở nước Anh lồng ghép vào nội dung lý thuyết [37].
Cuốn sách của tác giả Holley (2007) cũng mang tên “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn” được tái bản lần thứ hai, tác giả đã đưa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ. Trong những nghiên cứu về tài chính công, khi đưa ra vấn đề thực tiễn vào phân tích các tác giả cũng đưa vấn đề GDCL và tài chính cho GDCL. Tuy nhiên việc phân tích như vậy chỉ mang tính chất minh họa cho lý thuyết về tài chính công. Hướng nghiên cứu tác nghiệp hơn- QLTC trong lĩnh vực giáo dục [40].
Các công trình nghiên cứu nước ngoài khá rộng và sâu theo hướng này, tác giả của những công trình nghiên cứu này bao gồm những tổ chức và cá nhân. Các nước Mỹ, Anh, Úc, Canada có mô hình giáo dục công khá độc lập 13 giữa các bang hay các vùng.