CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, vai trò và nguyên tắc quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước 1. Doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước Theo Quốc hội Việt Nam (2014): “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.” Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Thu Hà và Đỗ Thị Hải Hà (2012) đưa ra quan điểm: “Doanh nghiêp nhà nước là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%).
Doanh nghiệp nhà nước nhiều chủ sở hữu trong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dưới 100%.” Từ các quan điểm trên, có thể rút ra khái niệm: "Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn điều lệ hoặc cổ phần. Doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu và quản lý của nhà nước và hoạt động dựa trên nguồn lực tài chính do nhà nước đầu tư”. Phân loại doanh nghiệp nhà nước Theo quy định hiện hành tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 49/2014/NĐ-CP thì các doanh nghiệp nhà nước (sau đây gọi chung là doanh nghiệp cấp 1), bao gồm: Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước.
Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp. 10 Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó.
Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước là doanh nghiệp mà phần vốn góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống. Công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác là công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó. Công ty nhà nước độc lập là công ty nhà nước không thuộc cơ cấu tổ chức của tổng công ty nhà nước. Khái niệm, mục tiêu quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước 1.
Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước a) Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính luôn đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Đã có nhiều công trình nghiên cứu theo cách tiếp cận khác nhau: Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi quan điểm đều có cách tiếp cận riêng. Theo quan điểm của Marx: “Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế tại doanh nghiệp. Nó có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tế khác.
Mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động gắn bó thường xuyên giữa phân phối sản xuất với tiêu thụ sản phẩm.” Các nhà kinh tế học đại diện cho trường phái kinh tế khác nhau cũng có quan điểm khác nhau về tài chính. 11 Theo quan điểm Psammuelson: “Tài chính là những hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.” Theo Vũ Duy Hào, Trần Minh Tuấn (2019): “Tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình tạo lập và phân phối nguồn tài chính và quỹ tiền tệ, quá trình tạo lập và chu chuyển nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm phục vụ mục đích sản xuất để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp đó.” Tài chính doanh nghiệp phản ánh quá trình hình thành và sử dụng các của cải trong doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu. Mục đích tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu là cơ sở quan trọng trong lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại. Các hoạt động tài chính tại doanh nghiệp bao gồm các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ kinh tế thông qua sự vận động của tiền tệ, nói cách khác giá trị được biểu hiện dưới hình thức khác nhau của vốn và tài sản.
Sự vận động của vốn và tài sản nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng quy mô kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh, đặc biệt là tăng giá trị công ty. Từ các quan điểm trên, tác giả luận văn rút ra khái niệm: Tài chính doanh nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tại doanh nghiệp nhằm thỏa mãn các nhu cầu, mục tiêu tại doanh nghiệp. Nó là một khâu của hệ thống tài chính, nó phản ánh tổng hợp hoạt động và kết quả hoạt động tại doanh nghiệp. Vì tại đây diễn ra quá trình tạo lập và chu chuyển vốn gắn liền với quá trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và phân phối.
b) Khái niệm quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước Võ Hồng Phúc (2007), cho rằng “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất”. Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý. Quản 12 lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan.
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quản lý tài chính tại doanh nghiệp là hoạt động quản lý của các cơ quan quản trị với hướng đi, đâu ra của nguồn tài chính dành cho sản xuất kinh doanh và hoạt động phát triển của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước, do đặc thù là là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần nên quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước là hoạt động quản lý nhà nước, do đơn vị chủ quản doanh nghiệp trực thuộc nhà nước quản lý và điều hành. Theo đó, có thể hiểu: Quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước là sự tác động của do đơn vị chủ quản doanh nghiệp trực thuộc nhà nước điều hành tác động tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Nó được thực hiện thông qua việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của doanh nghiệp nhà nước để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính được nhà nước đầu tư, tài sản cố định và các nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm thu lợi nhuận. QLTC doanh nghiệp nhà nước cũng là việc cơ quan quản lý nhà nước sử dụng các phương thức, các công cụ quản lý để kiểm soát sự vận động của các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho mục tiêu hoạt động SXKD của doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước Mỗi doanh nghiệp nhà nước tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, tối thiểu hóa chi phí, phát triển doanh nghiệp, vì sự tồn tại của doanh nghiệp,… và tại mỗi giai đoạn khác nhau mục tiêu của các doanh nghiệp cũng khác nhau. Song tất các mục tiêu cụ 13 thể đó đều nhằm đến một mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa trị giá tài sản cho các chủ sở hữu hay tối đa hóa tài sản doanh nghiệp.
Coi tối đa hóa tài sản doanh nghiệp làm mục tiêu QLTC doanh nghiệp có những ưu điểm sau: Mục tiêu tối đa hóa tài sản doanh nghiệp có thể khắc phục những hành vi ngắn hạn trong quá trình theo đuổi lợi nhuận: Bởi giá trị doanh nghiệp không những bị ảnh hưởng bởi giá trị lợi nhuận quá khứ hay hiện tại mà nó còn chịu ảnh hưởng bởi lợi nhuận trong tương lai. Do đó, với mục tiêu tối đa hóa tài sản doanh nghiệp, các nhà kinh doanh buộc phải xem xét đến sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, không ngừng tạo nên sự tăng trưởng lợi nhuận mới trong tương lai. Mục tiêu tối đa hóa tài sản không những xem xét lợi nhuận cao hay thấp mà chú trọng đến lưu lượng vốn nhiều hay ít: Xét về sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp, vốn nhiều hay ít quan trọng hơn là lợi nhuận nhiều hay ít (vì không phải lợi nhuận lúc nào cũng đồng nhất với tiền mặt). Chỉ có tăng nhanh lưu lượng tiền mặt đầu vào thì doanh nghiệp mới có thể liên tục phát triển.
Bên cạnh đó, nhân tố thời gian của tiền vốn góp phần phản ánh hiệu quả doanh nghiệp ngày càng chân thực hơn.