CHƯƠNG 1 N H Ữ N G VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ CÔ NG TÁC Q UẢN LÝ TÀI C H ÍN H Đ Ố I V Ớ I D O A N H N G H IỆ P N H À N Ư Ớ C 1. Khái niệm "Doanh nghiệp ỉà tô chức kỉnh tẻ có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ôn định, được đãng kỷ kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh." Hệ thông tô chức và phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp cũng như doanh nghiệp với bên ngoài được chi phối chủ yếu bởi các mối quan hệ kinh tế theo những khuôn khổ luật pháp nhất định. Sự ra đời của các doanh nghiệp là kết quả của việc phát triên nên kinh tế thị trường và phân công lao động xã hội. Đông thời, sự phát triên của các doanh nghiệp cũng đóng góp tích cực vào việc đấy mạnh sự phân công lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hoạt động sản xuất của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội.
* Những đặc điếm hoạt động của doanh nghiệp nói chung: - Mang chức năng sản xuất kinh doanh; - Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản, bên cạnh các mục tiêu xã hội; - Phải chấp nhận sự cạnh tranh đe tồn tại và phát triến. Nền kinh tế hình thành bởi nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tể: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thế, kinh tế tư nhân (cá thế, tiếu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản Nhànựớc, kinh tê có vôn đâu tư nước ngoài. Các thành phân kinh tể hoạt động theo pháp luật đêu là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triên lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Từ những 8 thay đôi vê tư duy quản lý kinh tê và điêu chỉnh pháp luật đổi với các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có định nghĩa về Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN).
Theo luật này, DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phổi, được tổ chức dưới hình thức Công ty Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH (Điều 1 Luật DNNN năm 2005). Cũng có thể hiểu “DNNN là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều \ệ”(Khoản 22, Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005). Nhưng theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, DNNN đã được quy định lại, đó là: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” (Khoản 8, Điều 4, Luật doanh nghiệp 2014). DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao.
DNNN có tư cách pháp nhân, có quyên và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý. DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc điểm của DNNN a. D N N N là t ổ c h ứ c k i n h t ế d o N h à n ư ớ c đ ầ u t ư v ố n v à t r ự c t i ế p t h à n h lậ p DNNN đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập doanh nghiệp là cần thiết, Việc thành lập DNNN dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo nhũng ngành, lĩnh vực then chốt, xương sổng của nền kinh tế.dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tê thời diêm dó và chủ trương của Đảng và ngành nghề lĩnh vực đó.
DNNN do Nhà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của DNNN là một bộ phận của tài sản Nhà nước. DNNN sau khi được thành 9 lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyên sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là nguời quản lý tài sản và kinh doanh trên co sở sở hữu của Nhà nước. Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao. DNNN là một pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn Nhà nước giao, b.
D N N N d o N h à n u ó c t ố c h ứ c q u ả n l ý v à h o ạ t đ ộ n g t h e o m ụ c t i ê u k in h tế x ã h ô i d o N h à n ư ó c g ia o Nhà nước quản lý DNNN thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyên theo phân cấp của Chính phủ. Bao gồm những nội dung sau: • Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại DNNN phù hợp với quy mô của nó; • Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong DNNN như hội đồng quản trị, Tổng giám đốc. • Những quy định thấm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm miễn • nhiệm khen thưởng kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng quản trị. Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao.
Nếu Nhà nước giao cho DNNN nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì DNNN đó phải kinh doanh có hiệu quả, DNNN nào được giao thực hiện hoạt động công tích thì DNNN đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội.V a i tr ò c ủ a D N N N • Trong điều kiện phát triển hiện đại, sự tồn tại của khu vực DNNN trong nên kinh tê của bất kỳ quốc gia nào là không thể bác bỏ nhung vai trò của nó đôi với mỗi nền kinh tế lại rất khác nhau. 10 ơ Việt Nam, kinh tê Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điêu kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tê tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nên kinh tế quốc dân và một trong những động lực của nền kinh tế. Nó được đồng nhất với kinh tế CNXH.
Thực hiện đổi mới kinh tế đã làm thay đổi sâu sắc vai trò của khu vực DNNN, nước ta trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập cạnh tranh cả nước có khoảng 505.000 DN thuộc nhiều thành phần kinh tê trong đó DNNN chỉ có hơn 500 DN 100% vốn Nhà nước, số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm 24 lần so với cách đây hon 20 năm, từ 12.000 doanh nghiệp năm 1986 xuống còn hơn 500 doanh nghiệp năm 2017; trong đó có 07 Tập đoàn kinh tế, 57 Tổng công ty Nhà nước, 441 doanh nghiệp độc lập thuộc các bộ, ngành, địa phương. (Nguôn: Báo cáo của Ban chỉ đạo đôi mới và phát triển doanh nghiệp, Kiêm toán Nhà nước) Số lượng ít nhưng vai trò DNNN vẫn rất quan trọng trong việc định hướng thị trường. Quá trình phát triển kinh tế công nghiệp hoá - hiện đại hoá 11 đòi hỏi DNNN phải thực sự mạnh, hiệu quả để làm tốt vai trò chủ lực. Trong nên kinh tế thị trường, Chính phủ thường đầu tư thành lập những DNNN trong những ngành chậm thu hồi vốn, những lĩnh vực mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không muốn hoạt động, nhằm đảm bảo sự phát triên bình thường của nên kinh tế.
Trong một số trường hợp, có nhũng DNNN hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục đích chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh của các DNNN thường thấp hơn khu vực tư nhân. Song, loại hình doanh nghiệp này giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. Trong một nền kinh tế thị trường các Doanh nghiệp Nhà nước vẫn được thành lập vì các lý do sau: • Độc quyền tự nhiên: Độc quyền tự nhiên xuất hiện do quy luật tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô, hiệu quả sản xuất và phân phối của một ngành đạt được tối đa khi chỉ có một người cung cấp duy nhất, chẳng hạn như trong ngành điện, nước.
Quốc hữu hóa các ngành này thường để đảm bảo không xảy ra chuyện doanh nghiệp tư nhân trở nên độc quyền và dựa vào đó bóc lột người tiêu dùng. • Thất bại của thị trường vốn: Có một số ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều vốn và mức độ rủi ro cao khiến cho việc huy động vốn tư nhân qua thị trường vốn rất khó khăn. Thí dụ như việc phát triển ngành sản xuất máy bay ở Brazil (EMBRAER), hay thép ở Hàn Quốc (POSCO). • Ngoại ứng: Các nhà đầu tư tư nhân không muốn đầu tư vào các ngành mà lợi ích của nó lan tỏa sang nhiều ngành khác trong khi họ không thu được phí từ sự lan tỏa này.họp của POSCO là một điến hình.
Chính phủ Hàn Quốc đã đẩy POSCO lên vị trí số 1, và POSCO đã không lợi dụng vị trí độc quyền này đế bòn rút lợi nhuận. Thay vào đó nó chia sẻ lợi ích này với các ngành khác, và vì thế làm lợi cho cả nền kinh tế. 12 • Công băng xã hội: Khu vực tư nhân nhiều khi không chịu vươn tới các khu vực nghèo đói, vùng sâu, vùng xa vì lợi nhuận thấp. Vì thế, phải có các Doanh nghiệp Nhà nước làm việc này để đảm bảo quyền tiếp cận tới các dịch vụ và tiện ích tối thiểu của công chúng.QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆPTRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.
K h á i n iệm tài ch ín h doanh n gh iệp và quản lý tài c h ín h doanh n gh iệp Tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ và sự vận động của các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Phản ánh sự vận động và chuyên hoá của các nguôn lực tài chính của doanh nuhiệp. Xét về mặt bản chất: Tài chính doanh nghiệp phản ánh các mối quan hệ kinh tế gắn liền với việc phân phối dưới hình thái giá trị để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.