Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN 1. Khái niệm quản lý tài chính bệnh viện Bệnh viện công là những đơn vị sự nghiệp công thực hiện cung cấp dịch vụ y tế cho xã hội và thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn về y tế theo quy định và hoạt động dưới sự quản lý kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ chế tự chủ tài chính đơn vị sự nghiệp nói chung và cơ chế tự chủ bệnh viện công lập nói riêng hiện nay được quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ [15]. Theo Nghị định này đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị.
Tài chính Bệnh viện công là việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính của Bệnh viện công cùng với đó là các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa Bệnh viện công với các chủ thể khác trong xã hội. Như vậy, tùy vào từng chủ thể khác nhau thì tài chính của chủ thể đó cũng sẽ có những đặc điểm cơ bản đặc thù riêng, do quản lý tài chính tại bệnh viện theo cơ chế tự chủ là một dạng của quản lý. Do đó, quản lý tài chính bệnh viện được xem là sự tác động có mục tiêu, có tổ chức đến đối tượng và quá trình hoạt động tài chính của bệnh viện như xác định nguồn thu và các khoản chi, thực hiện thu - chi theo đúng pháp luật, đúng các nguyên tắc của Nhà nước về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện. Quản lý tài chính Bệnh viện là sự tác động liên tục có hướng đích, có tổ chức của các nhà quản lý Bệnh viện lên đối tượng và quá trình hoạt động tài chính của Bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu 13 chi theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc của NN về tài chính, đảm bảo KP cho mọi hoạt động của Bệnh viện.
Do vậy, luận văn sẽ sử dụng khái niệm: “Quản lý tài chính trong Bệnh viện không chỉ dừng lại ở việc quản lý thu chi đơn thuần mà phải biết tích cực khai thác nguồn thu, phải biết huy động mọi nguồn lực (như nguồn XHH, cổ phần hoá, huy động vốn trong cán bộ công nhân viên Bệnh viện, vốn nhàn rỗi từ người dân, vốn đầu tư trong và ngoài nước, .) để đầu tư phát triển Bệnh viện từ đó tạo nguồn thu để tái đầu tư và nâng cao đời sống cho nhân viên Bệnh viện. Đồng thời quản lý tài chính Bệnh viện còn phải biết sử dụng hiệu quả nguồn thu theo nguyên tắc "chi phí thấp nhất đem lại hiệu quả cao nhất". Nội dung quản lý tài chính Bệnh viện 1. Nội dung quản lý tài chính tại bệnh viện công lập theo cơ chế tự chủ Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập [15] và Nghị định 85/NĐ-CP của Chính phủ ngày15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các bệnh viện công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập [14], thì nội dung quản lý tài chính tại bệnh viện công lập theo cơ chế tự chủ gồm: quản lý các nguồn thu, quản lý nhiệm vụ chi, quản lý phân phối kết quả tài chính, quản lý việc trích lập các quỹ và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.
Thứ nhất, quản lý các nguồn thu của bệnh viện công lập Các nguồn tài chính hình thành ngân sách của bệnh viện và được quản lý thống nhất theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp bao gồm: Ngân sách nhà nước cấp hàng năm; thu viện phí và bảo hiểm y tế, nguồn viện trợ và các nguồn thu khác. Nguồn ngân sách nhà nước cấp: Nguồn ngân sách nhà nước cấp là các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông qua kênh phân bổ của Chính phủ. 14 Bệnh viện chỉ được cấp kinh phí NSNN khi có trong dự toán được duyệt, chi đúng tiêu chuẩn định mức, có đầy đủ hồ sơ chứng minh việc chi tiêu của bệnh viện. Theo đó, ngân sách cho bệnh viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN, chi từ bảo hiểm y tế, thu viện phí và viện trợ nước ngoài.
Tuy nhiên nguồn NSNN cấp cho bệnh viện ở đây được định nghĩa là khoản chi cho bệnh viện từ NSNN cấp cho sự nghiệp y tế cân đối từ nguồn thuế trực thu và thuế gián thu. Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế: Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế được Nhà nước quy định là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng. Giá viện phí thực hiện thu theo quy định hiện hành của Nhà nước. Bảng giá phải được niêm yết công khai.
Việc thu viện phí trực tiếp của người bệnh phải sử dụng hoá đơn theo mẫu quy định của Bộ Tài chính, một liên của hoá đơn phải trả cho người bệnh. Đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế thì cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí của người bệnh cho bệnh viện và phòng tài chính kế toán có trách nhiệm thu viện phí từ cơ quan bảo hiểm y tế. Giám đốc bệnh viện hoặc người được uỷ quyền chịu trách nhiệm xét miễn, giảm viện phí cho người bệnh theo chế độ quy định. Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác: Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác được Nhà nước quy định là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng được hạch toán theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp.
Khi bệnh viện tiếp nhận tiền, hàng viện trợ phải làm các thủ tục xác nhận viện trợ theo quy định và phải sử dụng theo đúng mục đích từ phía nhà tài trợ. Các loại tài sản được viện trợ phải hạch toán tăng nguồn vốn và quản lý theo quy định như các tài sản được mua bằng nguồn vốn sự nghiệp do Nhà nước cấp. Nguồn thu từ khoản tiền đầu tư, thông qua các hoạt động liên doanh, liên kết để mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ của bệnh viện, đây chính là một cơ chế mở tháo gỡ các khó 15 khăn vướng mắc về góp vốn đầu tư, huy động các nguồn lực tài chính trong cộng đồng và xã hội nhằm chăm sóc sức khỏe cho con người. Các nguồn thu từ dịch vụ y tế nhằm phục vụ người bệnh như: Dịch vụ vận chuyển người bệnh.
Dịch vụ liên kết trong hoạt động chuyên môn. Dịch vụ cho người cao tuổi. Dịch vụ các phòng điều trị có chất lượng cao. Dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ cho các đơn vị cơ quan, xí nghiệp, trường học.
Dịch vụ ăn uống * Thứ hai, quản lý các khoản chi của bệnh viện công lập Theo quy định của Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập [14]. Các khoản chi trong bệnh viện chia thành hai loại: các khoản chi hoạt động thường xuyên và các khoản chi hoạt động không thường xuyên. Chi hoạt động thường xuyên: Là các khoản chi thực hiện nhiệm vụ thường xuyên như sau: Chi tiền lương: Đơn vị thực hiện chi trả lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp theo lương do Nhà nước quy định. Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu, ngân sách nhà nước cấp bổ sung; Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
Đối với các nội dung chưa có định mức chi theo quy định của 16 cơ quan nhà nước có thẩm quyền: đơn vị xây dựng định mức chi phù hợp theo tình hình thực tế trong quy chế chi tiêu nội bộ và chịu trách nhiệm. Chi hoạt động không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành đối với từng nguồn kinh phí quy định tại Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí), Nguồn Ngân sách nhà nước cấp kinh phí thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; và Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật. * Thứ ba, quản lý việc trích lập các quỹ và phân phối kết quả tài chính Theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP [14] và Nghị định 16/2015/NĐ-CP [15] thì Mức trích lập các Quỹ do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và các quy định tại Điều này. Sau khi trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp vẫn còn dư thì bổ sung vào các quỹ còn lại.
Kết thúc năm ngân sách, đơn vị xác định số chênh lệch thu lớn hơn chi và trích lập các Quỹ theo quy định.