phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài đƣợc chia thành ba chƣơng. - Chƣơng 1: Tổng quan pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần - Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại NHCT VN – CN Ba Đình - Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1 Vốn trong ngân hàng thƣơng mại cổ phần 1.1 Bản chất của vốn trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Vốn là tiền đề của hoạt động kinh doanh trong toàn xã hội nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng, mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu to lớn về vốn để vận hành và phát triển. Hơn nữa, hoạt động kinh doanh thƣờng xuyên đòi hỏi phải không ngừng đƣợc bổ sung một số lƣợng vốn nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu về tái sản xuất mở rộng, về thanh toán, về dự trữ,… phát sinh ở mọi thời điểm.
Trong cơ chế thị trƣờng, lƣợng vốn kinh doanh biểu hiện thế lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, có tầm quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thị trƣờng. Chính vì vậy mà thị trƣờng tài chính mà trong đó đóng vai trò chủ chốt là các ngân hàng thƣơng mại cổ phần luôn có mối quan hệ khắng khít cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là nguồn huyết mạch cung cấp cho doanh nghiệp sức sống để tồn tại và phát triển. Đây là căn nguyên làm cho các ngân hàng thƣơng mại cổ phần trở thành một trong những định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Các NHTM CP cũng là một loại hình doanh nghiệp, nguồn vốn cũng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với nó tƣơng tự nhƣ đối với các doanh nghiệp khác, tuy nhiên, vốn đối với các ngân hàng không đơn thuần chỉ là phục vụ cho nhu cầu mua nguyên vật liệu hay thực hiện các thanh toán chi trả mà nó là đối tƣợng trực tiếp của hoạt động ngân hàng, nó là “hàng hóa”, là phƣơng tiện hoạt động của các ngân hàng.
Chính vì thế, khác với các loại hình doanh nghiệp khác, nhu cầu về vốn của các ngân hàng nói riêng và các TCTD nói chung là rất lớn và có thể nói là không hạn chế về lƣợng. Xuất phát từ tính chất đó, loại doanh nghiệp đặc biệt này chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay mƣợn, phần lớn bắt nguồn từ hoạt động bán các trái quyền tiền gửi cho các doanh nghiệp, cá nhân… để cung ứng dịch vụ tín dụng và các dịch vụ khác. Chính nguồn vốn vay mƣợn này, chứ không phải vốn sở hữu, đã tạo nguồn lực tài 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính chủ yếu cho các hoạt động của ngân hàng. Trong giai đoạn đầu của hoạt động ngân hàng, các ngân hàng thƣờng không chủ động trong việc tìm kiếm các nguồn vốn mà thƣờng phụ thuộc vào ngƣời gửi tiền.
Nhƣng kinh tế càng phát triển, các ngân hàng phát hiện ra rằng, nguồn vốn truyền thống theo định hƣớng tiền gửi không đủ đáp ứng mức cầu tín dụng đang gia tăng của các khách hàng doanh nghiệp và gia đình. Để thỏa mãn nhu cầu tín dụng gia tăng của giới doanh nghiệp và cá nhân cần phải có những nguồn vốn mới: vay trên thị trƣờng tiền tệ. Tóm lại, vốn ngân hàng có thể đƣợc hiểu là những giá trị tiền tệ ngân hàng tự có, huy động và tạo lập đƣợc để thực hiện cho vay, đầu tƣ và thực hiện các dich vụ ngân hàng. Việc tạo lập và huy động vốn hình thành nên các khoản mục bên tài sản nợ của bảng cân đối tài sản của ngân hàng thƣơng mại cổ phần.
Các loại vốn trong ngân hàng thương mại cổ phần Theo Luật Doanh nghiệp hiện hành, để bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải thực hiện đăng ký kinh doanh, trong đó có đăng ký về vốn điều lệ. Vốn điều lệ do các sáng lập viên góp hoặc cam kết góp khi thành lập doanh nghiệp. Vốn điều lệ là tổng giá trị bằng tiền của tổng tài sản ban đầu góp vào doanh nghiệp, vốn này có thể tồn tại dƣới dạng tài sản cố định hữu hình, tài sản vô hình và tiền mặt… đƣợc sử dụng để sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ. Trong quá trình kinh doanh, khoản lợi nhuận phát sinh bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí sẽ làm tăng thêm vốn của chủ sở hữu và đƣợc sử dụng để trích lập một số quỹ từ lợi nhuận sau thuế ngoài vốn điều lệ ban đầu.
Trong quá trình hoạt động, ngoài sử dụng vốn của chủ sở hữu, doanh nghiệp phải tạo lập các nguồn vốn khác từ phát hành trái phiếu vay ngân hàng hoặc các tổ chức, cá nhân khác để mở rộng đầu tƣ hoặc bổ sung vốn lƣu động. Đây gọi là vốn nợ. Cả vốn của chủ sở hữu và vốn nợ đều tạo nên tài sản của doanh nghiệp. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, vốn là thể hiện bằng tiền toàn bộ giá trị tài sản.
NHTM CP cũng là một trong những loại hình doanh nghiệp, vì vậy vốn trong NHTM CP cũng bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn nợ. Vốn chủ sở hữu: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com o Các loại vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của NHTM CP bao gồm vốn điều lệ, thặng dƣ vốn, quỹ và các khoản chênh lệch do định giá lại.Vốn chủ sở hữu là phƣơng tiện để thực hiện các hoạt động kinh doanh, trong quan hệ với chủ nợ thì vốn của chủ sở hữu chính là tài sản để thanh toán các khoản nợ. (i) Vốn điều lệ: - Hình thành vốn điều lệ Theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành, vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và đƣợc ghi vào Điều lệ công ty. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, các NHTM CP phải đáp ứng đƣợc điều kiện về vốn pháp định - là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 1, Nghị định 10/2011/NĐ-CP ngày 26/01/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các TCTD, mức vốn pháp định của NHTM CP là 3. Nhƣ vậy, số vốn điều lệ của NHTM CP tối thiểu phải bằng vốn pháp định do chính phủ quy định. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Tại thời điểm thành lập, các cổ đông sáng lập thỏa thuận trong hợp đồng góp vốn thành lập công ty về số cổ phần sự định phát hành, số cổ phần nắm giữ của các cổ đông sáng lập.
Về bản chất, phát hành cổ phần là hành vi pháp lý nhằm tạo lập vốn điều lệ. - Quan hệ cổ phần và vốn điều lệ: Luật TCTD 2010 cũng đã quy định, NHTM CP có cổ phần phổ thông, và có thể có cổ phần ƣu đãi (Cổ phần ƣu đãi gồm hai loại là ƣu đãi cổ tức và ƣu đãi biểu quyết). Đối với cổ phần phổ thông, mỗi cổ phần có một quyền biểu quyết và cổ đông có quyền hƣởng cổ tức không có sự khác biệt về lợi ích giữa các cổ đông phổ thông. Cổ phần ƣu đãi trao quyền ƣu đãi biểu quyết hoặc ƣu đãi cổ tức cho cổ đông.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cổ phần ƣu đãi cổ tức là cổ phần đƣợc ƣu tiên chi trả cổ tức với mức cao hơn mức cổ tức trả cho cổ phần phổ thông hoặc đƣợc quy định mức ổn định hàng năm. Cổ tức đƣợc chi trả hàng năm gốm cổ tức cố định và cổ tức thƣởng. Tại Khoản 4, Điều 30, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại đã quy định cụ thể hơn đối với vấn đề này, theo đó, cổ phần ƣu đãi cổ tức là cổ phần đƣợc trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm. Cổ tức đƣợc chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thƣởng.
Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của ngân hàng và chỉ đƣợc trả khi ngân hàng có lãi. Trƣờng hợp ngân hàng kinh doanh thua lỗ thì cổ tức cố định trả cho cổ phần ƣu đãi cổ tức đƣợc cộng dồn vào các năm tiếp theo. Mức cổ tức cố định cụ thể và phƣơng thức xác định cổ tức thƣởng do Đại hội đồng cổ đông quyết định và đƣợc ghi trên cổ phiếu của cổ phần ƣu đãi cổ tức. Ngoài ra, tổng giá trị mệnh giá của cổ phần ƣu đãi cổ tức tối đa bằng 20% vốn điều lệ của ngân hàng.
Cổ phần ƣu đãi biểu quyết là cổ phần có số quyền biểu quyết nhiều hơn cổ phần phổ thông. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp hiện hành và Luật TCTD 2010 cũng đã quy định rõ về việc chỉ có tổ chức đƣợc Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập đƣợc quyền nắm giữ cổ phần ƣu đãi biểu quyết. Quyền ƣu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 03 năm, kể từ ngày TCTD đƣợc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ƣu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
Cổ đông sở hữu cổ phần ƣu đãi biểu quyết có các quyền nhƣ cổ đông phổ thông, trừ quyền chuyển nhƣợng cổ phần đó cho ngƣời khác. Nhƣ vậy, NHTM CP chỉ có thể phát hành cổ phần ƣu đãi biểu quyết trong một thời hạn cho một số đối tƣợng đƣợc giới hạn bởi các văn bản pháp luật liên quan. Nhƣ vậy, chúng ta có thể thấy việc phát hành cổ phần ƣu đãi về bản chất không làm thay đổi tổng vốn điều lệ hình thành Ngân hàng thƣơng mại cổ phần mà nó chỉ tác động đến quyền và lợi ích của cổ đông sở hữu cổ phần ƣu đãi. Tuy nhiên, khi sở hữu cổ phần ƣu đãi, chẳng hạn trong trƣờng hợp ƣu đãi cổ tức, cổ đông có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền ƣu tiên hơn trong phân phối lợi nhuận từ công ty hoặc đƣợc hoàn trả lại vốn góp mà không bị bất cứ ràng buộc nào khi thực hiện quyền yêu cầu hoàn lại vốn cổ phần đã góp.