Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên ở trường đại học theo hướng tự quản Chương 2: Thực trạng quản lý SV nội trú trường Đại học Y Hải Phòng theo hướng tự quản. Chương 3: Các biện pháp quản lý SV nội trú ở trường Đại học Y Hải Phòng theo hướng tự quản. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC THEO HƢỚNG TỰ QUẢN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục là một chức năng của xã hội loài ngƣời, đƣợc thực hiện một cách tự giác, vƣợt qua ngƣỡng “tập tính” của các giống loài động vật bậc thấp khác.
Cũng nhƣ mọi hoạt động khác của xã hội loài ngƣời, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động QLGD và từ đó cũng xuất hiện khoa học về QLGD. QLGD là quản lý ngƣời học. Ngƣời học vừa là đối tƣợng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất lƣợng đào tạo, ngoài việc xem xét yếu tố ngƣời dạy, nội dung, chƣơng trình, cơ sở vật chất.
thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tƣợng ngƣời học. Xung quanh vấn đề ngƣời học có rất nhiều vấn đề nghiên cứu trong đó có vấn đề ngƣời học trong quá trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục ở trong khu nội trú. Trƣớc đây, phần lớn sinh viên đến học tại các trƣờng Cao đẳng, Đại học hầu hết đều đƣợc ở trong ký túc xá, nhƣng hiện nay nhu cầu ở KTX của sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học không đáp ứng đƣợc vì quy mô đào tạo của các trƣờng Cao đẳng, Đại học trong những năm gần đây phát triển không ngừng. Vấn đề nghiên cứu về quản lý SV nội trú ít đƣợc đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quan đến viêc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau nhƣ: Nguyễn Hữu Hợp (Chủ biên, Nguyễn Dục Quang – “Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng tiểu học” (Giáo trình dành cho hệ tại chức đào tạo giáo viên tiểu học) – Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội 1995.
Năm 1997 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành riêng “Quy chế học sinh sinh viên nội trú trong các trƣờng Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp” nhằm quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các trƣờng trong việc 6 tổ chức quản lý khu nội trú, quyền và nghĩa vụ của học sinh, sinh viên trong các khâu liên quan đến việc ăn, ở, học tập, sinh hoạt. trong khuôn viên nội trú của các trƣờng đào tạo. Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, ngày 18/10/2002 Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký quyết định số 41/2002-QĐ-BGD&ĐT về việc sửa đổi bổ sung công tác HSSV nội trú. Ngày 26/07/2011 Bộ GD&ĐT đã ký thông tƣ số 27/2011/TT-BGD&ĐT về việc ban hành quy chế công tác sinh viên nội trú tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục Quốc dân.
Thông tƣ này có hiệu lực thi hành ngày 10/08/2011 và thay thế quyết định số 2137/GD-ĐT ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy chế công tác HSSVnội trú trong các trƣờng Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Quyết định số 41/2002/QĐ-BG&ĐT ngày 18/10/2002 của Bộ trƣởng Bộ giáo dục và đào tạo. Quản lý SV nội trú là vấn đề mới chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều, tuy nhiên có một số tác giả nghiên cứu đề cấp đến những khía cạnh khác nhau về quản lý ngƣời học. Có thể kể đến các công trình sau: Đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học của sinh viên trƣờng Dự bị đại học dân tộc TW – Việt Trì, Phú Thọ” của Lê Trọng Tuấn năm 2001 đã đánh giá thực trạng năng lực của sinh viên trƣờng Dự bị đại học dân tộc TW và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao năng lực tự học của sinh viên ; Đối với đề tài nghiên cứu vè quản lý nề nếp của SV nội trú của Lý Quang Vịnh: “Biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh viên nội trú ở trƣờng Cao đẳng Bắc Cạn” năm 2011 đã đánh giá thực trạng nếp sống sinh hoạt của sinh viên nội trú trƣờng cao đẳng cộng đồng Bắc Cạn và đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lƣợng quản lý nề nếp của sinh viên nội trú.
Những nghiên cứu trên tìm hiểu thực trạng công tác quản lý sinh viên trong đó có quản lý sinh viên nội trú và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý. 7 Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu một vấn đề là tự học hoặc nề nếp của SV mà chƣa có đề tài nào nghiên cứu hoạt động tự quản của SV nội trú. Hơn nữa chƣa có đề tài luận văn nào nghiên cứu về quản lý SV nội trú ở trƣờng Đại học Y Hải Phòng. Hiện nay, trƣờng Đại học Y Hải Phòng đang hƣớng tới xây dựng mô hình SV tự quản trong khu nội trú nên đang gặp một số khó khăn trong công tác quản lý sinh viên nội trú.
Vì vậy vấn đề “Quản lý sinh viên nội trú ở trƣờng Đại học Y Hải Phòng theo hƣớng tự quản” là vấn đề cần đƣợc nghiên cứu. Một số khái niệm về quản lý sinh viên ở trường đại học theo hướng tự quản 1. Khái niệm về quản lý Bất cứ tổ chức nào, cơ cấu phức tạp hay đơn giản, quy mô rộng hay hẹp, theo mục đích gì đều cần có sự quản lý. Nhƣ vậy, quản lý là yếu tố không thể thiếu đƣợc trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển nhƣ hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công và hợp tác lao động. Chính sự phân công và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, đánh giá và chỉnh lý. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý. Luận văn chỉ đề cập đến một số định nghĩa: Theo Mary Parker Follett: Quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh lại.
Theo điều khiển học: Quản lý là quá trình điều khiển của chủ thể quản lý đối với đối tƣợng quản lý để đạt đƣợc mục tiêu đã định. Trong từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, “quản lý là trông coi và 8 giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Harold Koontz:”Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trƣờng trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Với tƣ cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”[13] Các tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt định nghĩa: “Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định”[24]. Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng.[12] Từ các quan niệm và định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy quản lý có một số đặc trƣng sau: - Quản lý là hoạt động có mục đích, có định hƣớng, có kế hoạch - Quản lý tồn tại trong mọi hoạt động của xã hội loài ngƣời - Trong hoạt động quản lý, yếu tố con ngƣời-ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý giữ vị trí trung tâm. - Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan của ngƣời quản lý nhƣng phải phù hợp với quy luật khách quan. 9 Quản lý là một dạng hoạt động mang tính tất yếu của xã hội.
Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có tác động qua lại và chịu sự tác động của môi trƣờng. Con ngƣời là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý. Vì thế, quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Là khoa học vì nó là những tri thức đƣợc hệ thống hoá và là đối tƣợng nghiên cứu khách quan đặc biệt.
Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ và khách thể quản lý. Là nghệ thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng những kinh nghiệm đã quan sát đƣợc, những tri thức đã đƣợc đúc kết nhằm tác động một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý. Tóm lại, quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm hƣớng dẫn, điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con ngƣời để đạt tới mục đích phù hợp với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. * Chức năng của quản lý: Bốn chức năng cơ bản của quản lý liên quan mật thiết với nhau, đó là: lập kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện; kiểm tra đánh giá, trong đó thông tin là trung tâm của quản lý.
- Kế hoạch hoá là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các biện pháp, cách thức để đạt đƣợc mục tiêu, mục đích đó. - Tổ chức thực hiện là chuyển những ý tƣởng đã đƣợc kế hoạch hoá thành hiện thực, là quá trình hình thành nên các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của tổ chức. Tổ chức còn là quá trình điều phối thực hiện kế hoạch. 10 - Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ của ngƣời lãnh đạo với ngƣời khác và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ nhất định để đạt mục tiêu của tổ chức.