Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và những vấn đề chung về quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh dược phẩm theo hướng sức khỏe xanh Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh dược phẩm theo hướng sức khỏe xanh tại công ty cổ phần Traphaco giai đoạn 2009-2014 Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh dược phẩm theo hướng sức khỏe xanh tại công ty cổ phần Traphaco đến năm 2020 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH DƢỢC PHẨM THEO HƢỚNG SỨC KHỎE XANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận văn Cho đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu trong nước nói về vấn đề chuyển nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế “xanh”, mặc dù đây đang là một trong những tâm điểm của tái cấu trúc nền kinh tế thế giới thời kỳ hậu khủng hoảng và đang được cộng đồng quốc tế và Việt nam quan tâm. Hầu hết nghiên cứu trong nước gần đây mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu vấn đề phát triển bền vững trước nguy cơ ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.
Có thể phân loại các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận văn thành ba nhóm: nhóm 1, gồm các công trình nghiên cứu về sức khỏe xanh; nhóm 2, gồm các công trình nghiên cứu về quản lý sản xuất kinh doanh dược phẩm và nhóm 3 gồm các công trình nghiên cứu về sản xuất kinh doanh dược phẩm theo hướng sức khỏe xanh. Các công trình nghiên cứu về sức khỏe xanh Nền kinh tế xanh và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới thảo luận trong gần ba thập kỷ qua. Chủ đề này đã nhận được sự quan tâm đặc biệt hơn nữa do yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế thế giới trong bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (OECD, 2011). Từ những năm 1980, đã có những công trình nghiên cứu dự báo về sự phát triển của mô hình kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Tiêu biểu như nghiên cứu “Sự thay đổi trong mối quan hệ giữa an ninh môi trường và sự phát triển kinh tế thế giới, tầm nhìn đến năm 2000” của tác giả Jimmy Leng khá nổi bật. Trên cơ sở biến đổi khí hậu tự nhiên trên trái đất và những hậu quả của việc biến đổi khí hậu, Jimmy Leng đã đưa ra những dự báo về sự thay đổi trong việc phát triển kinh tế với 5 tầm nhìn đến năm 2000. Trong đó, mục tiêu môi trường sẽ được xem trọng trong các chương trình kinh tế của những nước phát triển, nếu muốn duy trì một sự phát triển bền vững trong dài hạn. Bên cạnh đó, ở Việt Nam, những nghiên cứu mới học hỏi kinh nghiệm của các nước đã thành công trong mô hình kinh tế xanh và những bài học rút ra cho Việt Nam.
Tiêu biểu có thể kể đến là nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thu Hương (2012) “Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở một số nước EU và gợi mở cho Việt Nam”. Nghiên cứu này tập trung đã chỉ ra được những thành công và hạn chế trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở một số nước phát triển như Đức, Pháp và Hà Lan. Trên cơ sở đặc điểm của một nước đang phát triển, nghiên cứu đã gợi mở ra những hướng đi mới đầy tiềm năng trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở Việt Nam, trong đó có lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Võ Huy Tập (2012) “Mô hình tăng trưởng xanh ở các nước Đông Bắc Á và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam đến năm 2020”, cũng là một nghiên cứu đáng quan tâm.
Nghiên cứu ở một số mô hình gần gũi với điều kiện văn hóa của Việt Nam hơn, như Hàn Quốc và Nhật Bản, nghiên cứu này đã chỉ ra việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh là xu hướng tất yếu đối với sự phát triển của các quốc gia. Từ đó, chỉ ra những điểm thành công và hạn chế trong quá trình chuyển đổi ở một số nước Đông Bắc Á và định hướng cho sự phát triển của mô hình tăng trưởng xanh ở Việt Nam trong giai đoạn tới.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý sản xuất kinh doanh dược phẩm Trong lĩnh vực quản lý sản xuất kinh doanh dược phẩm, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nâng cao chất lượng quản lý sản xuất kinh doanh dược phẩm thông qua việc tối đa hóa lợi nhuận và nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra. Có thể kể đến luận văn của Nguyễn Triều Dương (2006) “Nâng cao chất lượng quản lý và sản xuất dược phẩm của công ty dược Tâm Bình trong giai đoạn 2000 - 2010”, luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế Quốc Dân. Luận văn đã đưa ra những khái niệm và những quy chuẩn chung cho quá trình sản xuất và kinh doanh dược phẩm ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, căn cứ trên trường hợp của công ty 6 dược phẩm Tâm Bình, luận văn đã đề xuất được một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng quản lý và sản xuất dược phẩm. Bên cạnh đó, còn có luận văn thạc sĩ khác của Trần Phượng Minh (2012) “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong sản xuất dược phẩm tại công ty Cổ phần dược phẩm OPC”, luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của trường Đại học Thương mại. Luận văn cung cấp và bổ sung tư liệu quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận trong lĩnh vực sản xuất dược tại Việt Nam, căn cứ trên những chuẩn mực quốc tế. Cùng với đó, luận văn còn nêu được những rủi ro và hạn chế trong quá trình sản xuất dược phẩm của các doanh nghiệp dược trên thế giới nói chung và một số doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam nói riêng.3 Các công trình nghiên cứu về sản xuất kinh doanh dược phẩm theo hướng sức khỏe xanh Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh dược phẩm theo hướng sức khỏe xanh, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu về bảo tồn, phát triển nguồn dược liệu bền vững.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Thuần (2004): “Đánh giá và nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đồng bộ để sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam” đã điều tra, đánh giá thị trường dược liệu, đưa ra danh mục những cây thuốc có giá trị sử dụng phổ biến mọc tự nhiên có khả năng tiếp tục khai thác ở Việt Nam, những cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần bảo vệ, đặc biệt đã đưa ra hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu về tài nguyên dược liệu Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở vẫn đề bảo vệ và phát triển nguồn nguyên liệu chứ chưa đi sâu vào lĩnh vực sản xuất dược phẩm theo hướng sức khỏe xanh. Đề tài nghiên cứu cấp bộ của tác giả Trần Ngọc Ca (2012): “Nghiên cứu, xây dựng cơ chế chính sách liên kết 4 nhà: Nhà nước – Nhà doanh nghiệp – Nhà khoa học – Nhà nông để phát triển và sử dụng hiệu quả cây thuốc Việt Nam”, tác giả đã khái quát về xu hướng sử dụng các sản phẩm thuốc chữa bệnh có nguồn gốc tự nhiên và tình hình bảo tồn và phát triển dược liệu làm thuốc tại các quốc gia trên thế giới, đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Nhưng về cơ bản, nghiên 7 cứu chủ yếu tập trung vào mảng chính sách vĩ mô hơn là đi sâu nghiên cứu công tác sản xuất và kinh doanh dược phẩm theo hướng sức khỏe xanh.
Nghiên cứu của tác giả K.Chan (2004): “Dược liệu Trung Quốc và kết nối của chúng với khái niệm y học phương Tây”chỉ ra rằng ngành dược phẩm đang đứng trước sự lựa chọn giữa các thuốc sản xuất từ nguyên liệu hóa dược hay từ nguyên liệu thiên nhiên. Xu hướng quay về với thiên nhiên diễn ra khắp các nơi trên thế giới, từ Châu Á là cái nôi của nền y học dựa trên những kinh nghiệm cổ truyền cho đến Châu Âu nổi tiếng với những loại kháng sinh tổng hợp và Châu Mỹ hiện đại. Tổ chức y tế thế giới ước tính đến 80% dân số thế giới sử dụng thảo mộc để chăm sóc sức khỏe ban đầu. Ngành công nghiệp dược phẩm dựa trên việc chế biến các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên đem lại doanh thu khổng lồ cho các hãng dược phẩm lớn.
Ngoài ra, các quốc gia như Mỹ, Đức nhập khẩu nguồn nguyên liệu tự nhiên hoặc sơ chế và xuất khẩu sau khi đã chế biến kỹ hơn, chu trình này đã đem lại chênh lệch hàng tỷ đô la. Cùng với sự phát triển và tiến bộ của công nghệ hiện đại và sự tinh vi của các biện pháp chữa trị sử dụng thảo mộc, cơ hội mở ra cho ngành công nghiệp dược phẩm có nguồn gốc thảo dược ngày càng lớn. Trong cuốn “Tóm tắt về cây thảo dược và cây hương liệu ở Châu Á” (Handa và cộng sự, 2006) chỉ ra rằng các quốc gia ở Châu Á, nơi mà các cây hương, dược liệu là cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đại đa số người dân và là nguồn thu chủ yếu của những người sống ở nông thôn. Họ kiếm sống bằng việc bán cây nguyên liệu hoang dã hoặc trồng cây thuốc.
Khoảng 90% cây được hái lượm ở rừng. Một số nước chủ yếu là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nepal, Thái Lan và Việt Nam sản xuất cây hương, dược liệu về mặt thương mại. Ngày nay, thị trường dược liệu toàn cầu đóng góp 62 tỷ USD, trong đó Ấn Độ chiếm 1 tỷ USD. Liên minh Châu Âu là thị trường lớn nhất chiếm 45% trong tổng thị phần về dược liệu trên toàn thế giới, Bắc Mỹ chiếm 11%, Nhật Bản chiếm 16% và các nước ASEAN chiếm 19%.
Có thể thấy, xu hướng quay trở lại với thiên nhiên trong chăm sóc sức khỏe sẽ góp phần thúc đẩy phát triển nền “kinh tế xanh” trong lĩnh vực dược phẩm, không 8 những đem lại nguồn thu chính những cho người nông dân trồng dược liệu, lợi nhuận cho các doanh nghiệp kinh doanh dược liệu, dược phẩm,… mà còn góp phần bảo vệ đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Cùng với nó là những tiêu chuẩn hóa đối với các sản phẩm có nguồn gốc dược thảo mà chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.