Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng tại KBT Mường Nhé

Tổng quan hiện trạng quản lý rừng tại KBT Mường Nhé, Điện Biên và các giải pháp đề xuất nhằm bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng bền vững.

Chuyên ngành

Nông lâm kết hợp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Mường Nhé

Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên (KBTTN) Mường Nhé tại tỉnh Điện Biên là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng của Việt Nam. Khu vực này được thiết lập nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng đặc dụng, bảo tồn đa dạng sinh học phong phú và các hệ sinh thái quý hiếm. Với diện tích rộng lớn và địa hình đa dạng, KBTTN Mường Nhé sở hữu tiềm năng lớn về tài nguyên sinh vật và môi trường tự nhiên. Lịch sử hình thành khu bảo tồn gắn liền với quá trình phát triển của rừng đặc dụng tại Việt Nam, phản ánh cam kết của quốc gia trong việc bảo vệ thiên nhiên và phát triển bền vững.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

KBTTN Mường Nhé được thành lập theo các quyết định của UBND tỉnh Điện Biên nhằm bảo vệ rừng tự nhiên và tài nguyên sinh vật quý hiếm. Khu bảo tồn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ giai đoạn hình thành ban đầu đến hiện nay. Lịch sử phát triển khu bảo tồn cho thấy sự cam kết lâu dài của các cơ quan quản lý trong việc bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

1.2. Tiềm năng tài nguyên sinh vật

Khu bảo tồn sở hữu tiềm năng tài nguyên phong phú với hàng ngàn loài thực vật, động vật và các loài đa dạng sinh học hiếm quý. Các loài động vật quý hiếm như khỉ, gấu, hổ được bảo vệ trong khu bảo tồn thiên nhiên. Hệ sinh thái rừng tự nhiên tại Mường Nhé có vai trò quan trọng trong bảo tồn thiên nhiên và duy trì cân bằng môi trường.

II. Hiện trạng quản lý bảo vệ rừng tại KBTTN Mường Nhé

Công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) tại KBTTN Mường Nhé đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên thực hiện các hoạt động quản lý theo quy hoạch rừng đặc dụng được phê duyệt. Tuy nhiên, việc quản lý rừng vẫn gặp khó khăn do thiếu nhân lực, kinh phí và trang thiết bị hiện đại. Các yếu tố như phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), ngăn chặn khai thác lâm sản trái phép, và phục hồi sinh thái cần được tăng cường. Đánh giá hiện trạng cho thấy nhu cầu cấp thiết trong việc nâng cao năng lực quản lý và áp dụng công nghệ mới.

2.1. Tổ chức và quy hoạch rừng đặc dụng

Ban quản lý KBTTN được thành lập để thực hiện công tác quản lý rừng đặc dụng theo các quy định hiện hành. Cơ cấu tổ chức bao gồm các phòng chuyên môn, trạm bảo vệ rừng và nhân viên quản lý tại cộng đồng địa phương. Quy hoạch rừng được lập để hướng dẫn việc bảo vệ và phát triển rừng theo định hướng bền vững, phân chia rõ các khu vực bảo vệ nghiêm ngặtphát triển rừng.

2.2. Đánh giá các hoạt động quản lý bảo vệ rừng

Các hoạt động quản lý bảo vệ rừng bao gồm tuần tra, kiểm tra, ngăn chặn khai thác trái phép và công tác phòng chữa cháy rừng. Kết quả đánh giá cho thấy hiệu quả quản lý đã cải thiện nhưng còn nhiều hạn chế. Việc bảo tồn đa dạng sinh họcphục hồi sinh thái cần được quan tâm hơn để nâng cao chất lượng quản lý tài nguyên rừng.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rừng

Công tác quản lý bảo vệ rừng tại KBTTN Mường Nhé chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố phức tạp. Điều kiện tự nhiên như địa hình núi cao, khí hậu nhiệt đới ẩm gây khó khăn cho quản lý rừng. Yếu tố kinh tế - xã hội bao gồm áp lực từ cộng đồng địa phương muốn khai thác lâm sản, nhu cầu canh tác nương rẫy, và tình trạng nghèo đói. Biến đổi khí hậu (BĐKH) làm tăng nguy cơ cháy rừng và suy thoái rừng. Thiếu nhân lực có đủ chuyên môn, kinh phí và trang thiết bị hiện đại là những thách thức quan trọng. Ngoài ra, chính sách chưa thực sự phù hợp với điều kiện địa phương.

3.1. Yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội

Địa hình của Mường Nhé gồm núi cao, sườn dốc làm khó khăn cho công tác quản lý rừng. Biến đổi khí hậu gây ra những thách thức trong phòng cháy chữa cháy rừng. Kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương còn khó khăn, làm tăng áp lực khai thác rừng. Nhu cầu đất canh tác và lâm sản ngoài gỗ từ cộng đồng ảnh hưởng lớn đến bảo vệ rừng.

3.2. Nhân lực khoa học kỹ thuật và chính sách

Thiếu nhân lực chuyên môn là vấn đề lớn trong quản lý bảo vệ rừng. Khoa học kỹ thuật mới chưa được áp dụng rộng rãi. Chính sách quốc gia cần được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện địa phương và khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia bảo tồn thiên nhiên.

IV. Giải pháp quản lý bảo vệ rừng tại KBTTN Mường Nhé

Để nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng tại KBTTN Mường Nhé, cần áp dụng các giải pháp quản lý toàn diện. Thứ nhất, tăng cường tổ chức có sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa phương trong các quyết định quản lý. Thứ hai, nâng cao nhân lực thông qua đào tạo, tuyển dụng cán bộ chuyên môn. Thứ ba, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại như giám sát rừng bằng công nghệ GIS, viễn thám. Thứ tư, phục hồi sinh thái các khu rừng suy thoái, tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học. Thứ năm, rà soát và điều chỉnh chính sách quản lý rừng cho phù hợp với thực tế địa phương.

4.1. Nâng cao năng lực tổ chức và nhân lực

Cần tổ chức có sự tham gia của chính quyền địa phương, cộng đồng địa phương, nhà khoa học và các tổ chức xã hội. Tuyển dụng và đào tạo nhân lực chuyên môn trong quản lý tài nguyên rừng. Lập các nhóm bảo vệ rừng cộng đồng từ cộng đồng địa phương. Cấp đủ trang thiết bị, kinh phí cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.

4.2. Ứng dụng công nghệ và chính sách bền vững

Áp dụng khoa học kỹ thuật trong quản lý bảo vệ rừng như công nghệ GPS, GIS, viễn thám. Thực hiện phục hồi sinh thái khu rừng suy thoái. Rà soát, hoàn thiện chính sách quản lý rừng, khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia bảo tồn thiên nhiên. Liên kết chương trình giảm phát thải (REDD+) để tạo thu nhập bổ sung cho cộng đồng địa phương.

22/12/2025
Khóa luận đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên mường nhé tỉnh điện biên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Để hạn chế suy thoái tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn loài, bảo vệ môi trường, quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng; đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên nhiên của các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vườn quốc gia (VQG) có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái…đã mang lại lợi ích cho mỗi Quốc gia, mỗi cộng đồng mà trực tiếp là con người thụ hưởng. Hiện nay các khu bảo tồn (KBT) đã và đang gặp nhiều khó khăn thách thức trong công tác quản lý bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các KBT và VQG trên phạm vi cả nước. Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé được thành lập theo Quyết định số 1019/QĐ/UBND ngày 03/10/2005 của UBND tỉnh Điện Biên, Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé nằm trên địa bàn 5 xã: sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Nậm Kè, Mường Nhé của huyện Mường Nhé thuộc biên giới Việt - Lào của huyện Mường Nhé (Điện Biên), diện tích đất quy hoạch cho khu bảo tồn là 45.581ha, diện tích được giao quản lý 45. Hiện diện tích đất có rừng là 33.061,93 ha, độ che phủ rừng đạt 73,26%.

Trong khu bảo tồn Mường Nhé có nhiều thảm rừng nguyên sinh như rừng thường xanh trên đất thấp, rừng thường xanh núi thấp, rừng thường xanh trên núi cao và rừng tre nứa đang được bảo tồn nguyên vẹn. Hệ thực vật rừng của khu bảo tồn Mường Nhé khá đa dạng, được phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau tạo nên các kiểu rừng với ưu hợp điển hình như: Sồi, Dẻ, Giổi, Re, Thích, Pơ Mu, Thông nàng; đến nay đã thống kê được 740 loài thực vật thuộc 500 chi trong 156 họ của 5 ngành thực vật, trong đó có 35 loài thực vật quí hiếm, 29 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Qua thống kê khảo sát tháng 12 năm 2006 do Chuyên gia động vật Viện Điều tra quy hoạch rừng thực hiện đã thống kê có 291 loài động vật thuộc 95 họ của 27 bộ trong các lớp động vật. Trong đó có 55 loài động vật đặc hữu, quý hiếm; 39 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 45 loài có tên trong Sách đỏ Việt nam như Gấu ngựa (Ursusthibetanus), Gấu chó (Ursus malayanus), Vượn 2 bạc má (Nomacus leucogenys)… Hiện tại những áp lực lên KBT cũng rất lớn, vì đây là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Thái, Mông, Cống, Dao, Sán Chỉ.

Đời sống của bà con các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn. Với tổng số 83 hộ, gần 501 nhân khẩu đang sinh sống trong vùng lõi của khu bảo tồn, và hơn 5.226 hộ gia đình với 31.360 người sinh sống ở vùng đệm. Do vậy áp lực lên tài nguyên rừng, đa dạng sinh học ngày càng nặng nề hơn. Vì vậy để giải quyết vấn đề bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ rừng, đặt ra không phải chỉ là vấn đề giáo dục, thực thi pháp luật, nâng cao kỹ thuật và tìm vốn đầu tư mà còn phải chú ý đến vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp, mà chủ yếu là cải thiện mức sống của người dân, nhất là những người dân nghèo, đồng thời nâng cao nhận thức của họ về bảo vệ môi trường rừng, các hệ sinh thái điển hình, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên thiên nhiên bao gồm: đất, rừng, nước, các loài động, thực vật.

Để giải quyết vấn đề đó, cần thiết tìm ra được hướng giải quyết vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp, nhằm cải thiện mức sống của người dân. Những năm qua, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (KBTTN Mường Nhé) đã đẩy mạnh tuyên truyền công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn các xã vùng đệm của Khu bảo tồn. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng, PCCCR của người dân. Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé ở Điện Biên được đánh giá là khu bảo tồn thuộc loại lớn của Việt Nam, có tính đa dạng sinh học cao và hệ sinh thái rừng phong phú, trở thành địa điểm du lịch khám phá thiên nhiên hấp dẫn.

Trước thực trạng tình hình trên, Ban Quản lý KBTTN Mường Nhé và Hạt Kiểm lâm thường xuyên tăng cường, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh, huyện tổ chức nhiều đợt tuần tra, kiểm tra truy quét, trục xuất các đối tượng khai thác gỗ, lâm sản trái phép ra khỏi KBT. Hiện nay tình trạng khai thác gỗ trái phép trong khu bảo tồn đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn diễn ra một số điểm khai thác gỗ lén lút trong các lũng vùng lõi của KBT gây ra nhiều khó khăn trong công quản lý tài nguyên rừng. Xuất phát từ tình hình thực tế hiện tại khu bảo tồn Mường Nhé đang bị xâm hại trong nhiều năm qua rất cần có sự chung tay tham gia quản lý bảo vệ rừng của mọi 3 cấp ngành, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt cộng đồng người dân địa phương sở tại.

Chính vì vậy, thực hiên đề tài: “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé – Tỉnh Điện Biên”, nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào việc quản lý tài nguyên rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé là cần thiết. Mục tiêu - Phân tích, đánh giá được công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé - Xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý tài nguyên rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé - Đề xuất được các giải pháp giảm thiểu sự tác động bất lợi đối với tài nguyên rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các nguyên tắc và giải pháp nhằm góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng ở khu bảo tồn Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 1.

Ý nghĩa thực tiễn Các giải pháp đề xuất giúp ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham khảo, áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý bền vững tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa học tập - Áp dụng được lý thuyết đã học vào thực tiễn và học hỏi thêm được những kiến thức bổ ích từ bên ngoài trường. - Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành cho bản thân phục vụ cho công việc sau này. Tích lũy những kinh nghiệm cho công việc khi đi làm.

- Rèn luyện về kỹ năng nghiên cứu khoa học: kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu và viết báo cáo khoa học. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Trên thế giới 2. Lịch sử hình thành và phát triển rừng đặc dụng Theo định nghĩa của IUCN (1994) đã khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN): “KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH), các tài nguyên thiên nhiên và di tích lịch sử, văn hóa đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”.

Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19.Vườn quốc gia (VQG) Yellowstnoe là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VGQ này nằm trên vùng đất do người Crow là nười Shosshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng người này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều KBTTN và VQG được thành lập sau đó các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBTTN và VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương (CĐĐP) và KBT và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [12].

Hầu hết các KBT đều được thiết lập vì mục đích quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương. Dựa trên mô hình của Mỹ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR. Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự ĐDSH thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn [9]. Trong vài thập kỷ qua, các KBTTN trên thế giới có xu hướng tăng cả về số lượng và diện tích.

Hiện nay trên thế giới có 100.000 khu BTTN (tạp chí KBTTN tập 14, số 3, năm 2014) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế gới. Vườn Quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBT loài và sinh cảnh. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện 5 thực hóa các lợi ích tiềm năng mà KBTTN có thể đem lại vấn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nới trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng Công ước ĐDSH (1992) xác định các khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn ĐDSH “tại chỗ” tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công ước có các mục (a) (b) và (c) quy định rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống các KBTTN, xây dựng hướng dẫn lựa chọn, thành lập quản lý các KBTTN và quản lý các tài nguyên sinh học trong các KBTTN để đảm bảo bảo tồn và sự dụng bền vững [6].

Trong quá trình hình thành và phát triển các KBTTN, mối nước đều có cách tiếp cận riêng, không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung, điều này gây trở ngại cho việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về KBTTN trong phạm vi khu vực và toàn cầu. Những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ những thuật ngữ và phân hạng các KBTTN được ghi nhận vào năm 1993. Hệ thống phân hạng quốc tế KBTTN đầu tiên được IUCN xây dựng và công bố năm 1978, gọi là hệ thống phân hạng năm 1978. Hệ thống phân hạng 1978 của IUCN gồm có có 10 phân hạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ