Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Năm 1970, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng xuất hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ, đã được tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) nghiên cứu, quảng bá và nhân rộng.
Hiện nay thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng được áp dụng hầu hết ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển và được xem là một phương thức quản lý rừng có hiệu quả. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng về các khía cạnh: (i) cải tiến chính sách; (ii) thể chế tiếp cận; (iii) phát triển công nghệ trên cơ sở kinh nghiệm bản địa để phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng một cách phù hợp vào điều kiện Việt Nam. * Khái niệm về cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng - Khái niệm về cộng đồng: Khái niệm này được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, tuy nhiên chưa có sự thống nhất chung về định nghĩa.
Cụ thể: + Thuật ngữ “cộng đồng” theo FAO (1996) [49] “Cộng đồng là những người sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”. - Lâm nghiệp cộng đồng: + Thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng” (Community Forestry Management) theo FAO (1999) “Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.E-Michael Arnold (1999) [43] thuật ngữ Lâm nghiệp cộng đồng được sử dụng với nghĩa hẹp hơn “là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm người địa phương”. + Ở Nepal, thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng chỉ được hiểu như là "một nhóm sử dụng rừng (Forest use Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng” [58].
Như vậy, thuật ngữ “lâm nghiệp cộng đồng” đã được đề cập ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nó hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền vững. Mặt khác người dân đang sống phụ thuộc vào rừng, những giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống người dân từ hoạt động lâm nghiệp. Từ quan điểm đó đã hình thành các phương thức, các chương trình hoạt động quản lý rừng dụa vào cộng đồng.
- Khái niệm quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community Based Forest Management - CBFM). CBFM là một phương thức nhằm duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân gốc rễ làm suy giảm tài nguyên rừng ở một số quốc gia. Theo Denr (2001) [48], Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM), dựa trên quan điểm “Con người trước và lâm nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên rừng. Quan điểm này cho thấy CBFM nhắc đến việc phân cấp quản lý rừng một cách mạnh mẽ trong đó nhấn mạnh đến giao quyền quản lý các khu rừng và tạo cơ hội cho người dân trong cộng đồng có quyền được hưởng lợi từ rừng.
Khi mà các vấn đề đói nghèo và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng địa phương sẽ nhận thấy trách nhiệm của chính họ trong việc quản lý, bảo vệ rừng. Điều này đã được nhiều Chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng và từ đó đã thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở nhiều cộng đồng vùng cao sống phụ thuộc vào rừng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Trong một số năm gần đây để khẳng định hơn tính sở hữu và làm chủ trong quản lý tài nguyên rừng, khái niệm quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được phân định rõ hơn “Quản lý rừng dựa vào cộng đồng bao gồm tất cả các hoạt động, tổ chức thu hút cộng đồng tham gia và được chia sẻ lợi ích từ rừng”. Trong khi đó một khái niệm cụ thể hơn là “Quản lý rừng cộng đồng” (Community Forest Management - CFM) đã được đề xướng và thực thi ở nhiều nước, nó là một phạm trù của quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM).
Tuy nhiên, nó nhấn mạnh và làm rõ quyền sở hữu rừng của cộng đồng, trên cơ sở đó cộng đồng tự tổ chức quản lý sử dụng theo nhu cầu và đảm bảo tính bền vững [52]. Tuy mỗi tác giả, mỗi nước có quan điểm, có cách hiểu về các phạm trù khái niệm khác nhau để phù hợp với điều kiện của từng nước, song nó lại là cơ sở và kinh nghiệm tốt để Việt Nam học hỏi và tham khảo nhằm đưa ra những cơ sở lý luận đúng cho thực tiễn quản lý rừng ở Việt Nam. * Đổi mới chính sách lâm nghiệp phục vụ tiến trình quản lý rừng cộng đồng Nghiên cứu của Arnol, JEM và Steward, W.C (1989) [43] đã kết luận rằng “Mặc dù có sự suy thoái về rừng cộng đồng và quản lý tài nguyên sở hữu công cộng (CPRM - Common Pool Resources Management), chúng vẫn còn đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống lâm nghiệp và trong đời sống dân nghèo”. Các tác giả cho rằng để tiến tới việc quản lý tài nguyên sở hữu công cộng bền vững cần dành ưu tiên cao cho việc sửa đổi chính sách, sự yếu kém và sai sót của luật lệ hiện đang phá huỷ các tổ chức quản lý tài nguyên sở hữu công cộng hoặc đang khuyến khích việc tiếp tục tư nhân hoá.
Năm 1987, nghiên cứu của Basu, N.G [44] chỉ ra các vấn đề lâm nghiệp được phân tích dựa trên quan điểm của những cộng đồng sống tại rừng. Tác giả đề nghị một chính sách lâm nghiệp mới để ngăn chặn quá trình phát triển đồi trọc và để lôi cuốn nhân dân tham gia vào quá trình quản lý rừng. Theo Denr (2001), [48] mặc dù chính sách lâm nghiệp cộng đồng đã có ở nhiều quốc gia, tuy vậy việc thực hiện chính sách cũng thường gặp các trở ngại như: (i): Thiếu sự cam kết và mất công bằng trong phân bổ ngân sách. (ii): Tiếp cận từ trên xuống và thiếu linh hoạt.
(iii): Quyền sử dụng đất và tài nguyên không ổn định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 (iv): Hệ thống quản lý, kỹ thuật lâm nghiệp chưa tương thích với kiến thức và năng lực của cộng đồng trong quản lý rừng. (v): Nhân viên kỹ thuật lâm nghiệp thiếu kỹ năng thúc đẩy để quản lý rừng dựa vào cộng đồng có sự tham gia vào tiến trình ra các quyết định ở địa phương. (vi): Thiếu các khung pháp lý để hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng.
Nhận thức chưa đầy đủ của một đại bộ phận và nhân viên lâm nghiệp về chính sách lâm nghiệp cộng động hiện hành và tổ chức thực hiện nó. (vii): Thiếu công bằng và rõ ràng trong phân bổ lợi ích từ rừng. Để thực hiện Quản lý rừng cộng đồng (CFM) điều đầu tiên cần có là sự đổi mới về chính sách, thể chế và quan điểm tiếp cận, phát huy dân chủ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. Quản lý rừng cộng đồng cũng đòi hỏi có sự thay đổi trong tiến trình ra quyết định, đổi mới chính sách cho phù hợp trong quản lý kinh doanh, trong đó giải pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân được chú trọng và tạo ra cơ sở cho phát huy dân chủ.
Nhân tố cốt lõi của cải cách thể chế, chính sách để hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng là nâng cao tính dân chủ, sự tham gia lập kế hoạch, các quyết định giám sát và phát triển nguồn nhân lực. * Các yếu tố kinh tế - xã hội và lợi ích từ rừng cộng đồng Năm 1988, Verman, D.P [59] có một nghiên cứu điểm ở một khu rừng trồng 4 ha được tạo lập năm 1974 trên đất chăn thả của cộng đồng thôn Dhanori bang Gujarat, Ấn Độ, theo kế hoạch “rừng làng” của Nhà nước. Trong 4 năm liền việc cắt cỏ để bán ra ngoài bị cấm. Cây cối được chặt vào năm 1983 - 1984 và lợi nhuận được phân bổ theo gia đình của cộng đồng, chỉ số lợi nhuận nội bộ của gỗ, củi và cỏ được tính tới 35%.
Dân làng được hưởng củi, gỗ nhỏ để làm nhà và sửa lại nhà cửa, có thêm công ăn việc làm. Thành công đó đã giúp thôn tự tổ chức được một hội trồng cây và tiếp tục trồng thêm vào năm 1984 - 1986. Kết quả trình diễn của khu rừng đã đem lại thêm 200 ha rừng trồng ở khu này. Lam Tom Linson (1994) và Banerjee (1996) [55] cho rằng, nếu chúng ta nhận thức sự mất rừng có liên quan đến các yếu tố kinh tế, xã hội thì việc cần thiết để có thể đảm bảo được sự thành công trong công tác quản lý rừng chính là mối quan tâm và sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động đó, phải chú trọng đến mối quan tâm của người dân trong cộng đồng đó là vấn đề sinh kế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 Hiện nay, rất nhiều chương trình dự án tham gia quản lý rừng, phục hồi rừng nhưng Chokkalingaman Ravindranath (2001), [47] cho rằng đã thiếu sự chú trọng dài hạn tới cả hai yếu tố sinh thái và kinh tế xã hội. Chúng thường khởi đầu với sự nhiệt tình trong việc đầu tư kinh phí cũng như phổ biến kỹ thuật cho cộng đồng địa phương nhưng ở giai đoạn cuối của dự án, sự chú trọng này bị giảm sút hoặc thậm chí mất đi với một nguyên nhân không rõ ràng. Chính thực tế này đã làm giảm sự quan tâm của cộng đồng và kết quả của việc quản lý, bảo vệ, phát triển rừng không được như mong đợi. Như vậy, trong quản lý rừng cộng đồng do thiếu nghiên cứu về các vấn đề kinh tế và xã hội một cách đầy đủ, cụ thể, thích hợp mà những biện pháp kỹ thuật thường không được áp dụng hoặc áp dụng một cách hình thức nên không đạt kết quả như mong đợi.
Vì vậy, cần xem vấn đề kinh tế và xã hội là những yếu tố có tính quyết định đến việc lựa chọn và áp dụng các giải pháp kỹ thuật vào các mô hình quản lý rừng cộng đồng ở địa phương.