Chương 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Tình hình hoạt động và tổng quan kho vận trên thế giới Theo khảo sát và dự báo của viện nghiên cứu Panteia (Hà Lan), tổng vận chuyển hàng hóa của thế giới có thể tăng 3,3% trong năm 2020 sau đó chậm lại vào năm 2021 với mức tăng 2,3%. Dự đoán tình hình các loại dịch vụ ngành logistic dựa trên đánh giá về khả năng tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, chính sách thuế nhập khẩu của các nước, giá xăng dầu và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác bao gồm cả các vấn đề chính trị, xã hội và tự nhiên. Ngành vận tải hàng hóa trên thế giới Về mặt chi phí cho vận tải chiếm khoảng 60% chi phí chung cho logistic.
Nhờ tính linh hoạt, tiếp cận dễ dàng, độ tin cậy và khả năng phục vụ door to door nên vận tải đường bộ chiếm 44,6% về doanh thu vận tải. Xét theo khối lượng đường thủy chiếm tỉ trọng hàng đầu với 47,9% thị phần toàn cầu. Ngành vận tải đường bộ Đường bộ dẫn đầu về tỉ trọng vận chuyển hàng hóa toàn cầu. Tuy nhiên năm 2021 tiếp tục có nhiều thách thức gia tăng đối với ngành vận tải hàng hóa đường bộ.
Mặt khác, do tình trạng thiếu lái xe và giá nhân công tăng, đặc biệt tại phân khúc xe tải tại châu Âu. Vận tải đường bộ dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất (3,8% năm 2020 và 2,7% năm 2021). Ngành đường bộ ít ảnh hưởng bởi việc chuyển đổi năng lượng hơn là đường sắt và đường thủy. Ngành vận tải đường sắt Do than đá chiếm một tỉ trọng lớn trong vận chuyển hàng hóa của các ngành đường sắt và đường thủy nên khi các nước chuyển từ sử dụng than đá sang các loại năng lượng tái tạo sẽ tác động lớn đến ngành đường sắt và đường thủy hơn là đường bộ.
Vận tải hàng hóa bằng đường sắt toàn cầu dự kiến tăng 2,8% trong năm 2022, tương đương mức tăng 1,3 triệu tấn hàng hóa. Năm 2022 khối lượng vận chuyển dự kiến tăng 2,1%. Dự báo tăng trưởng khối lượng sà lan là 0,6% vào năm 2020 và 0,3% vào năm 2021. 5 Vận tải hàng không Nhu cầu thương mại điện tử đang tạo thêm áp lực cho ngành vận tải hàng không, dẫn đến việc công suất tiếp tục tăng trong nửa đầu năm 2020.
Các chủ hàng và nhà nhập khẩu đang tìm cách giảm thiểu chi phí lưu kho dù sử dụng phương thức vận tải nào. Khối lượng hàng hóa vận chuyển hàng không tăng ổn định trong năm 2020. Việc chủ động giữ chỗ với cả người vận chuyển và người giao nhận đang là lựa chọn phổ biến hơn cho các chủ hàng có quy mô vừa và nhỏ. Vận tải đường biển Theo báo cáo của hội nghị thương mại và phát triển liên hiệp quốc (UNTACD), thương mại hàng hải toàn cầu tăng trưởng 4% trong năm 2017, mức cao nhất trong 5 năm trở lại đây, đạt 10,7 tỉ tấn hàng hóa, tăng 411 triệu tấn so với năm 2016 trong đó 50% là hàng khô.
Khối lượng vận chuyển tăng ở hầu hết các phân khúc tạo tiền đề cho tăng trưởng nửa đầu năm 2018 trước khi xung đột giữa các nền kinh tế lớn làm xáo trộn một số chuỗi cung ứng hàng hóa truyền thống. Các phân khúc vận chuyển hàng hóa rời và container tiếp tục được cải thiện trong năm 2020. Vận tải đường biển có sự khác biệt lớn giữa các tuyến. Tuyến xuyên Thái Bình Dương hướng đông dự báo hiện tại cho thấy sự tăng trưởng 8 - 9% chủ yếu do đây là tuyến hoạt động của tàu lớn hiện đại.
Vận tải đa phương thức Xu hướng phát triển của vận tải đa phương thức, với sự kết nối của vận tải đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không trong cùng một hợp đồng vận tải đang đóng góp tỉ trọng ngày càng lớn trên thị trường logistics thế giới nhờ tính linh hoạt trong việc đáp ứng các đơn hàng với các quy mô khác nhau, hạn chế tác động từ các rủi ro thiên tai, đình công,. trong khi cân đối chi phí ở mức chấp nhận được cho các chủ hàng. Ngành dịch vụ kho bãi Theo dự báo của công ty nghiên cứu thị trường Technavio 6 và Businesswire, thị trường kho bãi toàn cầu dự kiến đạt 1,8 nghìn tỉ USD vào năm 2022 và sẽ tăng trưởng trung bình 6%/năm trong giai đoạn 2018-2022. Đặc biệt khi hàng hóa được phân bố phổ biến hơn qua thương mại điện tử.
Nhu cầu đối với thực phẩm đông lạnh và dược phẩm ngày càng tăng đang thúc đẩy sự phát triển của hệ thống kho 6 lạnh. Việc sử dụng thiết bị bay không người lái tại kho để theo dõi hàng tồn kho là một trong những xu hướng chính trong thị trường kho bãi và lưu trữ toàn cầu. Các khu vực như châu Âu, Bắc Mỹ và một số khu vực của châu Á - Thái Bình Dương bao gồm Australia và Singapore vẫn có ưu thế vượt trội do có vị thế cao hơn trong chuỗi cung ứng và nền tảng công nghệ cao hơn. Trong khi đó các thị trường có quy mô lớn về dân số như Ấn Độ, Trung Quốc được dự báo sẽ dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp kho bãi với sự gia tăng của các cơ sở sản xuất, cảng biển, cảng cạn,.và đặc biệt là sự phát triển của thương mại điện tử.
Châu Á - Thái Bình Dương hiện đang dẫn đầu thị trường kho bãi thế giới với thị phần khoảng 39% và dự báo sẽ dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 2018-2022. Ngành giao nhận chuyển phát Năm 2018 chứng kiến sự thay đổi lớn trên thị trường giao nhận toàn cầu do tác động của các công nghệ mới đặc biệt về tự động hóa và ứng dụng của vệ tinh nhân tạo trong hoạt động logistic. Thị trường tự động hóa dịch vụ giao hàng dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ trên 25% trong giao đoạn dự báo (2018-2022). Sự liên thông trong chuỗi cung ứng được hỗ trợ bởi các tiến bộ trong công nghệ định vị, camera hành trình và đặc biệt là khả năng phân tích, dự báo các chặng tiếp theo của lộ trình.
Khả năng hiển thị vị trí hàng hóa được cải thiện trong chuỗi cung ứng. Các chủ hàng và nhà hàng cung cấp dịch vụ có thể theo dõi trực tuyến thông qua các ứng dụng di động tình hình hàng hóa của họ từ điểm xuất phát đến đích. Nguồn: Báo cáo logistic Việt Nam năm 2021 1. Tình hình hoạt động kho vận tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia đang nổi lên với nền kinh tế phát triển năng động và có tốc độ tăng trưởng cao.
Các tổ chức kinh tế và tài chính trên thế giới đã đưa ra những đánh giá và dự báo khả quan về sự phát triển của kinh tế nước ta trong thời gian tới, bất chấp nền kinh tế thế giới đang lâm suy thoái trầm trọng. Cùng với sự phát triển kinh tế là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện rõ nhất ở việc Việt Nam chính thức gia nhập và trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hội nhập này đó là sự phát triển của ngành kinh doanh dịch vụ logistics.
Logistics là một ngành mới phát triển ở Việt 7 Nam trong những năm gần đây, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam mở cửa thị trường, các hoạt động xuất nhập khẩu được đẩy mạnh, thì hoạt động logistics đóng vai trò đặc biệt quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tham gia vào thị truờng quốc tế của các DN Việt Nam. Sự phát triển của dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Đây là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của hoạt động này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia.
Do đó, để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên trường quốc tế thì điều tất yếu Việt Nam phải nâng cao hiệu quả hoạt động của dịch vụ logistics. Tại Việt Nam, hoạt động logistics chưa phát triển toàn diện, các DN kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam thực tế chưa đủ khả năng để cung cấp dịch vụ logistisc theo đúng nghĩa của nó, hầu hết các DN Việt Nam chủ yếu chỉ tham gia một số công đoạn của hoạt động này với quy mô nhỏ. Hoạt động chủ yếu các DN nước ta tham gia vào chuỗi hoạt động cung cấp các dịch vụ logistics này chính là hoạt động vận tải. Nhưng thực tế thì thị phần mà các DN trong nước có được từ các hợp đồng xuất nhập khẩu để cung cấp dịch vụ này thì lại rất nhỏ.
Theo tính toán của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì các DN trong nước chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài, trong khi đó 90% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu là thông qua phương thức vận tải biển. Rõ ràng, dịch vụ logistics của Việt Nam đang còn nhiều hạn chế ngay chính tại thị trường trong nước, các DN Việt Nam chưa có đủ năng lực và điều kiện để cạnh tranh với các tập đoàn kinh doanh dịch vụ logistics và các hãng tàu có lịch sử lâu đời trên thế giới đã có mặt tại Việt Nam như DHL, APL, NYK, Schenker,. Các DN logistics ở nước ta có những hạn chế so với các tập đoàn quốc tế về các mặt như: Cơ sở hạ tầng, vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, hành lang pháp lý,. và cần một sự đầu tư và nỗ lực lớn để có thể phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh của DN mình, đặc biệt là hoạt động vận tải - hoạt động mang lại nguồn lợi lớn nhất.
Theo kết quả khảo sát về logistics năm 8 2018, hoạt động vận tải nội địa được thuê ngoài nhiều nhất (100%), hoạt động kho bãi (73%), hoạt động vận tải quốc tế (59%). Khái quát về đánh giá rủi ro an toàn vệ sinh lao động 1. Mục đích của việc đánh giá rủi ro an toàn vệ sinh lao động Mục đích của việc đánh giá rủi ro là tìm hiểu những rủi ro có thể và sẽ liên quan tới công việc chuẩn bị thực hiện, phải chỉ ra cụ thể những rủi ro có thể gặp.