Tổng quan nghiên cứu

Theo các báo cáo môi trường quốc gia, tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại Việt Nam ước tính đạt gần 22 triệu tấn/năm, trong đó tỷ lệ thu gom bình quân toàn quốc chỉ đạt khoảng 31%, tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn trong khi khu vực nông thôn và miền núi vẫn còn rất thấp. Huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh là địa bàn miền núi đặc thù với 90% diện tích là đồi núi, bao gồm 21 xã và 1 thị trấn. Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng dọc theo 47,60 km đường Hồ Chí Minh và 185 km các tuyến tỉnh lộ huyết mạch đã làm gia tăng đáng kể lượng chất thải rắn sinh hoạt, tạo áp lực nặng nề lên hạ tầng xử lý rác thải vốn còn nhiều hạn chế.

Thực tế cho thấy ngân sách nhà nước tại địa phương không đủ nguồn lực để bao cấp toàn bộ chu trình thu gom, vận chuyển và tiêu hủy rác. Tình trạng vứt rác bừa bãi và các bãi chôn lấp tự phát gây ô nhiễm nghiêm trọng đến nguồn nước sông Ngàn Sâu, đe dọa trực tiếp đến đời sống dân sinh. Trước bối cảnh đó, đề tài nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Thanh Xuân tập trung giải quyết bài toán cấp bách: Làm thế nào để huy động tối đa các nguồn lực xã hội vào công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt.

Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về xã hội hóa quản lý môi trường, đánh giá thực trạng thu gom và xử lý rác thải tại huyện Hương Khê giai đoạn 2011-2015, phân tích các yếu tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giai đoạn 2016-2020. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để nâng tỷ lệ thu gom rác thải toàn huyện từ dưới 40% lên trên 75%, đồng thời giảm trên 50% gánh nặng chi ngân sách công thông qua cơ chế tự chủ và trách nhiệm cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế môi trường với nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter Pays Principle) kết hợp cùng lý thuyết hàng hóa công cộng và mô hình quản trị môi trường dựa vào cộng đồng. Luận văn làm rõ 4 khái niệm trung tâm: chất thải rắn sinh hoạt theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP và Nghị định 59/2007/NĐ-CP; quản lý rác thải sinh hoạt; xã hội hóa bảo vệ môi trường theo quan điểm của các nhà khoa học kinh tế nông thôn; và mô hình dịch vụ môi trường tự quản.

Cơ sở pháp lý của đề tài gắn liền với Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Điều 54 và Điều 116 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cùng Nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa. Khung lý thuyết chỉ rõ tính cấp thiết của việc giảm thiểu rác thải chôn lấp, bởi khí thải từ bãi rác chứa 45% đến 60% khí metan (CH4) và 40% đến 60% khí cacbonic (CO2). Trong khi đó, thành phần rác hữu cơ chiếm 45% đến 60% và túi nilon chiếm 6% đến 16% tổng lượng rác sinh hoạt, là nguồn tài nguyên có thể tái chế nếu được phân loại đúng cách tại nguồn.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và đại diện cao, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng với tổng quy mô 150 phiếu điều tra. Cỡ mẫu bao gồm 120 hộ gia đình được khảo sát tại 3 cụm địa bàn tiêu biểu: Thị trấn Hương Khê (đại diện khu vực đô thị trung tâm), xã vùng đồng bằng thấp trũng ven sông Ngàn Sâu, và xã vùng núi cao hẻo lánh; cùng 30 cán bộ chuyên trách gồm đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, cán bộ Hợp tác xã môi trường, tổ trưởng tổ dân phố và công nhân vệ sinh.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ niên giám thống kê và báo cáo môi trường của Ủy ban nhân dân huyện Hương Khê trong giai đoạn 2011-2015. Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu từ tháng 05/2015 đến tháng 01/2016. Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và mô hình phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác sự sẵn sàng chi trả của người dân, đồng thời nhận diện rõ những điểm nghẽn về thể chế và hạ tầng tại vùng sâu, vùng xa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh bình quân tại huyện Hương Khê dao động từ 0,40 kg đến 0,65 kg/người/ngày. Trong cơ cấu rác thải sinh hoạt, tỷ lệ chất hữu cơ chiếm tỷ trọng vượt trội từ 50% đến 58%, rác vô cơ và chất dẻo khó phân hủy chiếm khoảng 12% đến 15%, còn lại là tạp chất khác. Mặc dù tiềm năng tái chế rất lớn nhưng tỷ lệ hộ dân thực hiện phân loại rác tại nguồn chỉ đạt khoảng 18,5%, hơn 81% lượng rác vẫn bị vứt lẫn lộn gây khó khăn lớn cho khâu thu gom.

Mô hình Hợp tác xã vệ sinh môi trường tại thị trấn và các tổ thu gom tự quản bước đầu huy động được khoảng 62% số hộ dân tham gia đóng phí dịch vụ (mức phí từ 6.000 đến 15.000 đồng/hộ/tháng). Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom chung toàn huyện mới chỉ đạt khoảng 35% đến 40% lượng rác phát sinh, riêng các xã vùng sâu tỷ lệ này dừng lại ở mức dưới 15%.

Đáng chú ý, hơn 65% lượng rác sau thu gom vẫn được xử lý bằng hình thức đổ lộ thiên tại bãi rác tập trung chưa có lót đáy chống thấm, nước rỉ rác có hàm lượng COD dao động từ 3.000 đến 45.000 mg/l và BOD5 từ 2.000 đến 30.000 mg/l, gây nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng đất và mạch nước ngầm. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp chi tiết qua các biểu đồ cơ cấu thành phần rác và bảng so sánh tỷ lệ tiếp cận dịch vụ môi trường giữa các vùng sinh thái trên địa bàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do công tác tuyên truyền còn mang tính hình thức, chưa xây dựng được thói quen phân loại rác cho người dân. Cơ chế tài chính còn hạn hẹp khi toàn huyện chỉ có 2 đến 3 xe chuyên dụng, thu nhập của công nhân thu gom chỉ đạt từ 1.000.000 đến 1.500.000 đồng/tháng và chưa được hưởng đầy đủ bảo hiểm xã hội, dẫn đến chất lượng dịch vụ chưa cao. Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích khu vực tư nhân theo Nghị định 69/2008/NĐ-CP chưa được cụ thể hóa bằng các ưu đãi đất đai, tín dụng tại địa phương.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế như mô hình thành phố Curitiba tại Brazil đạt tỷ lệ tái chế 70% nhờ cơ chế đổi rác lấy thực phẩm và vé xe buýt, hay mô hình tại Nhật Bản với hệ thống phân loại 3 dòng rác nghiêm ngặt, công tác quản lý tại Hương Khê còn rất sơ khai. So với các mô hình trong nước như xã Quan Lộc (Thanh Hóa) đạt 90% vốn đóng góp từ dân để xử lý vi sinh EM, hay xã Thạch Kim (Hà Tĩnh) nhân đôi lượng rác thu gom nhờ tổ tự quản, huyện Hương Khê hoàn toàn có thể bứt phá nếu trao quyền chủ động cho các đoàn thể cơ sở như Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách hỗ trợ đầu tư. Ủy ban nhân dân huyện Hương Khê cần ban hành quy chế quản lý chất thải rắn mới, điều chỉnh mức phí thu gom linh hoạt từ 15.000 đến 25.000 đồng/hộ/tháng đối với khu vực kinh doanh và 10.000 đến 15.000 đồng/hộ/tháng đối với hộ thuần nông; đồng thời áp dụng chính sách miễn thuế 3 năm đầu và hỗ trợ 50% lãi suất vay vốn cho các đơn vị tư nhân đầu tư phương tiện thu gom rác, hoàn thành trong giai đoạn 2016-2018.

Thứ hai, kiện toàn và nhân rộng mô hình Hợp tác xã vệ sinh môi trường liên xã. Chuyển đổi toàn bộ các tổ rác tự phát sang mô hình hợp tác xã dịch vụ có tư cách pháp nhân đầy đủ, bảo đảm mục tiêu nâng tỷ lệ thu gom toàn huyện lên 75% vào năm 2020. Ủy ban nhân dân các xã phối hợp cùng Hợp tác xã trang bị tối thiểu 10 xe thu gom đẩy tay và 2 xe ép rác chuyên dụng cho mỗi cụm liên xã trong giai đoạn 2017-2019.

Thứ ba, triển khai chương trình phân loại rác tại nguồn kết hợp xử lý vi sinh tại hộ gia đình. Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện chủ trì hướng dẫn 100% hội viên tại 21 xã phân loại rác vô cơ và hữu cơ, ứng dụng chế phẩm sinh học EM để ủ phân compost tại vườn nhà, đặt mục tiêu giảm từ 40% đến 50% khối lượng rác phải vận chuyển về bãi chôn lấp tập trung trước năm 2019.

Thứ tư, thiết lập cơ chế giám sát cộng đồng và chế tài xử phạt nghiêm minh. Thành lập các tổ tự quản bảo vệ môi trường tại 100% thôn xóm, đưa tiêu chí vệ sinh môi trường vào hương ước thôn làng; giao quyền lập biên bản và đề xuất xử phạt hành chính từ 100.000 đến 500.000 đồng đối với các hành vi xả rác bừa bãi; cơ quan chủ trì là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện phối hợp Công an huyện triển khai định kỳ hàng tháng từ năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Cán bộ quản lý nhà nước tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã tại các địa bàn miền núi. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn để hoạch định quy hoạch bãi rác tập trung, xây dựng đề án xã hội hóa dịch vụ công và ban hành biểu giá dịch vụ thu gom phù hợp với thu nhập của người dân nông thôn.

Ban quản trị các Hợp tác xã môi trường và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích. Tài liệu cung cấp phương pháp tổ chức bộ máy thu gom tinh gọn, cách thức phân bổ tuyến đường vận chuyển hợp lý và bài toán cân đối thu chi tài chính để duy trì hoạt động có lãi từ nguồn thu phí vệ sinh.

Các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Mặt trận Tổ quốc. Luận văn là cẩm nang hữu ích giúp các đoàn thể xây dựng mô hình tự quản, triển khai phong trào "Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch" và nâng cao nhận thức cộng đồng về phân loại rác thải tại nguồn.

Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Khoa học môi trường. Đề tài cung cấp hệ thống chỉ tiêu phân tích hoàn chỉnh, phương pháp thiết kế mẫu khảo sát định lượng và góc nhìn thực chứng sâu sắc về chuyển đổi kinh tế dịch vụ môi trường tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Xã hội hóa công tác quản lý rác thải sinh hoạt mang lại lợi ích kinh tế cụ thể nào cho ngân sách địa phương? Cơ chế xã hội hóa giúp giảm từ 40% đến 60% kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách huyện cho hoạt động vệ sinh môi trường, đồng thời huy động vốn nhàn rỗi trong dân để đầu tư phương tiện, tạo việc làm cho hàng chục lao động tại chỗ với thu nhập ổn định từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng/tháng.

Vì sao tỷ lệ phân loại rác tại nguồn ở huyện Hương Khê vẫn ở mức thấp? Nguyên nhân chủ yếu do thói quen lâu đời của người dân, thiếu trang thiết bị thu gom chuyên biệt có phân biệt màu sắc và thiếu sự đồng bộ ở khâu vận chuyển; khi người dân đã phân loại nhưng đơn vị thu gom lại đổ chung vào một xe chuyên chở khiến người dân mất động lực duy trì.

Mô hình dịch vụ môi trường nào phát huy hiệu quả tốt nhất tại khu vực miền núi? Mô hình Hợp tác xã dịch vụ vệ sinh môi trường liên xã được đánh giá tối ưu nhất vì vừa có tư cách pháp nhân để ký hợp đồng dịch vụ, vừa có khả năng hạch toán kinh tế độc lập, ký hợp đồng thu phí ổn định và bảo đảm đầy đủ chế độ bảo hộ lao động cho công nhân.

Hộ gia đình ở vùng nông thôn miền núi nên áp dụng giải pháp xử lý rác hữu cơ nào? Giải pháp tối ưu là phân loại rác thực phẩm và phụ phẩm nông nghiệp để xử lý bằng chế phẩm vi sinh EM hoặc xây dựng hầm ủ phân hữu cơ vi sinh tại vườn nhà. Cách làm này giúp tận dụng trên 50% lượng rác thải làm phân bón sạch và giảm 45% lượng rác thải ra môi trường.

Vai trò của các tổ chức đoàn thể trong việc duy trì xã hội hóa dịch vụ môi trường là gì? Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên đóng vai trò nòng cốt trong việc giám sát cộng đồng, trực tiếp tuyên truyền qua các buổi sinh hoạt thôn xóm và hỗ trợ thu phí vệ sinh môi trường, trong đó các chi hội được trích lại từ 4% đến 5% doanh thu để tái phục vụ các hoạt động phong trào xanh.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung thể chế về xã hội hóa quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn miền núi.
  • Đánh giá sát thực trạng phát sinh, thu gom và xử lý rác thải tại huyện Hương Khê giai đoạn 2011-2015 với tỷ lệ thu gom đạt từ 35% đến 40%.
  • Chỉ rõ 4 nhóm rào cản ảnh hưởng gồm cơ chế quản lý, năng lực cán bộ, nguồn vốn đầu tư và ý thức người dân.
  • Xây dựng 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình cụ thể từ năm 2016 đến năm 2020.
  • Cung cấp mô hình mẫu có khả năng nhân rộng cho 21 xã trên địa bàn và các huyện miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.

Kế hoạch hành động tiếp theo đặt trọng tâm vào việc triển khai thí điểm mô hình Hợp tác xã dịch vụ môi trường liên xã trong giai đoạn 2017-2020. Các cơ quan quản lý, nhà đầu tư xã hội và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp hệ thống dữ liệu chi tiết trong luận văn để ứng dụng vào công tác hoạch định và thực thi chính sách tại địa phương.