Tổng quan nghiên cứu

Đói nghèo hiện là vấn đề xã hội cấp bách khi khoảng 1/4 dân số thế giới vẫn sống trong tình trạng thiếu thốn các nhu cầu cơ bản. Tại Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt nhiều thành tựu, trong đó Quỹ "Vì người nghèo" giữ vai trò then chốt. Từ khi phát động ngày 17/10/2000 đến 30/9/2016, Quỹ "Vì người nghèo" bốn cấp đã vận động và tiếp nhận được 11.454 tỷ đồng, hỗ trợ xây dựng, sửa chữa gần 1,5 triệu căn nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo trên cả nước.

Luận văn thạc sĩ "Quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa" của tác giả Trần Thị Phương Tân tập trung giải quyết một khoảng trống nghiên cứu quan trọng: chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về quản lý sử dụng nguồn vốn xóa đói giảm nghèo tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Trong khi các nghiên cứu trước chủ yếu bàn về chính sách vĩ mô hoặc thực trạng nghèo, khía cạnh quản trị tài chính của một quỹ xã hội hóa cấp huyện gần như bị bỏ ngỏ.

Mục tiêu nghiên cứu gồm ba nhiệm vụ cụ thể: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo; phân tích, đánh giá thực trạng công tác này tại huyện Hạ Hòa giai đoạn 2016–2018 nhằm chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; đề xuất hệ giải pháp tăng cường quản lý quỹ đến năm 2022.

Phạm vi không gian là địa bàn huyện Hạ Hòa – huyện miền núi phía Bắc tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì khoảng 70 km, có tổng diện tích tự nhiên 34.026,51 ha và dân số 113.856 người (năm 2018). Phạm vi thời gian đánh giá thực trạng là 2016–2018, giải pháp hướng tới mốc 2022.

Ý nghĩa của luận văn nằm ở việc làm rõ tính tất yếu khách quan của việc tăng cường vai trò Nhà nước kết hợp huy động nguồn lực xã hội, đồng thời cung cấp bộ giải pháp khả thi góp phần nâng cao chất lượng sống cho cư dân vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên hai nền tảng lý thuyết chính. Thứ nhất là lý thuyết đo lường nghèo đa chiều và ngưỡng nghèo, kế thừa quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB) – theo đó hộ nghèo là hộ không đủ khả năng chi trả lượng lương thực cung cấp 2.100 calo/người/ngày – kết hợp định nghĩa của Hội nghị ESCAP tại Băng Cốc tháng 9/1993 và Hội nghị thượng đỉnh Copenhagen 1995 (ngưỡng 1 USD/người/ngày). Ba khía cạnh cốt lõi được rút ra: mức sống dưới trung bình cộng đồng, không thụ hưởng nhu cầu tối thiểu, và thiếu cơ hội tham gia phát triển.

Thứ hai là lý thuyết quản lý tài chính công đối với quỹ xã hội hóa, vận dụng khung "chủ thể quản lý – đối tượng quản lý" với bốn nội dung: quản lý thu, quản lý chi, kế toán – quyết toán, và kiểm tra – giám sát. Khung pháp lý điều chỉnh là Quyết định số 901/QĐ-TMTW-BTT ngày 25/9/2011 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Thông tư 77/2007/TT-BTC ngày 05/7/2007 của Bộ Tài chính.

Năm khái niệm chính được thao tác hóa: (1) nghèo và chuẩn nghèo; (2) xóa đói giảm nghèo; (3) Quỹ vì người nghèo – quỹ phi lợi nhuận hình thành từ đóng góp tự nguyện, tổ chức ở 4 cấp; (4) quản lý sử dụng quỹ; (5) giám sát cộng đồng. Mô hình nghiên cứu xác định bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng: chính sách Nhà nước, trình độ phát triển kinh tế – xã hội, chuẩn quy định hộ nghèo, và hoạt động của chính quyền cùng Ban vận động các cấp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp, kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo của UBND huyện, Ủy ban MTTQ huyện Hạ Hòa, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc huyện, Ban Vận động quỹ vì người nghèo huyện trong ba năm 2016–2018; bổ sung bằng Nghị quyết và Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2015–2020.

Dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra bằng bảng hỏi thiết kế sẵn, cỡ mẫu 150 phiếu, thực hiện từ tháng 9/2018 đến tháng 11/2018 (khoảng 3 tháng). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích theo nhóm đối tượng liên quan trực tiếp đến quy trình quản lý quỹ: lãnh đạo UBND huyện, lãnh đạo Ủy ban MTTQ huyện, thành viên Ban vận động "Ngày vì người nghèo", lãnh đạo ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc huyện, người dân và các hộ đang được công nhận là hộ nghèo. Lý do lựa chọn cách chọn mẫu này là quản lý quỹ mang tính chuyên biệt, đòi hỏi người trả lời có hiểu biết trực tiếp về quy trình thu – chi, nên mẫu ngẫu nhiên đơn thuần sẽ làm loãng chất lượng thông tin.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả kết hợp so sánh chuỗi thời gian ba năm, tính tốc độ phát triển liên hoàn và bình quân. Cách tiếp cận này phù hợp vì mục tiêu nghiên cứu thiên về mô tả và chẩn đoán thực trạng quản lý, không nhằm kiểm định quan hệ nhân quả bằng mô hình kinh tế lượng. Ngoài ra, phương pháp phân tích tài liệu và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn được dùng để đối chiếu bài học từ hai huyện tương đồng trong tỉnh là Tân Sơn và Cẩm Khê.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kinh tế huyện tăng trưởng khá nhưng cơ cấu vẫn nặng nông nghiệp. Năm 2018 tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 1.001 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 11,008%/năm. Tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp giảm từ 33,483% (2016) xuống 28,744% (2018), trong khi công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng từ 295.995 triệu đồng (chiếm 31,624%) lên 427.477 triệu đồng (chiếm 37,075%), tốc độ phát triển bình quân 120,292%. Dữ liệu này phù hợp trình bày bằng biểu đồ cột chồng thể hiện chuyển dịch cơ cấu ba khu vực qua ba năm.

Thứ hai, áp lực dân số nông nghiệp còn rất lớn. Dân số toàn huyện tăng từ 110.340 người (2016) lên 113.856 người (2018), bình quân 101,63%/năm. Khẩu nông nghiệp vẫn chiếm 88,29% năm 2018, dù đã giảm từ 91,07% năm 2016. Lao động phi nông nghiệp tăng mạnh với tốc độ 117,15% bình quân, cho thấy tín hiệu chuyển dịch tích cực nhưng quy mô còn nhỏ.

Thứ ba, quỹ đất sản xuất bình quân đầu người suy giảm liên tục. Đất nông nghiệp bình quân trên khẩu nông nghiệp giảm từ 0,118 ha xuống 0,111 ha, tương ứng giảm bình quân 1,15%/năm; đất nông nghiệp trên hộ giảm bình quân 5,25%/năm. Nguyên nhân là quy hoạch hạ tầng: đường du lịch Ao Châu, đường tránh lũ, cầu Hạ Hòa, đường nối quốc lộ 70 và QL 32C.

Thứ tư, đầu tư hạ tầng phục vụ giảm nghèo được đẩy mạnh. Năm 2018 huyện chi 80 tỷ đồng cho giao thông, 43,89 tỷ đồng cho hệ thống điện, và 203 tỷ đồng xây mới 742 phòng học. 100% số xã sử dụng điện lưới quốc gia; đã nhựa hóa 100/150 km đường huyện quản lý và bê tông hóa hơn 200 km đường liên thôn; cứng hóa 93,6 km kênh mương. Mạng lưới y tế có 33 trạm, đạt 2,5 bác sĩ/1 vạn dân.

Thảo luận kết quả

Hạn chế lớn nhất được luận văn chỉ ra không nằm ở nguồn lực đầu vào mà ở khâu tổ chức thực hiện: công tác vận động chưa tương xứng với tiềm lực có thể huy động trong và ngoài huyện; hoạt động kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên; cơ chế ban hành văn bản và xây dựng kế hoạch triển khai còn chậm đổi mới.

Nguyên nhân sâu xa mang tính cấu trúc. Chuẩn nghèo thay đổi theo giai đoạn làm số hộ nghèo biến động tỷ lệ thuận: khi chuẩn khu vực nông thôn nâng từ 200.000 đồng/người/tháng lên 400.000 đồng/người/tháng (giai đoạn 2011–2015), tỷ lệ hộ nghèo tại Phú Thọ tăng từ trên 28% lên 31,91%. Điều này cho thấy đánh giá hiệu quả quỹ phải kiểm soát yếu tố chuẩn nghèo, nếu không sẽ hiểu sai kết quả.

So sánh với hai địa phương tương đồng cho thấy dư địa cải thiện rõ rệt. Huyện Tân Sơn giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 62% (2007) xuống 30,34% (cuối 2017), tức giảm gần 32 điểm phần trăm trong 10 năm. Huyện Cẩm Khê giảm từ 30,61% (2010) xuống 24,78% (2017), giảm 5,83 điểm phần trăm, đồng thời hỗ trợ tiền điện cho gần 31.000 lượt hộ nghèo và xóa 1.090 nhà tạm. Có thể trình bày đối sánh này bằng bảng ba cột (địa phương – tỷ lệ đầu kỳ – tỷ lệ cuối kỳ) kèm biểu đồ đường.

Điểm chung của hai mô hình thành công là gắn quỹ với sinh kế chứ không dừng ở trợ cấp: Cẩm Khê nâng thu nhập bình quân lên gần 10,13 triệu đồng/người/năm nhờ nhân rộng mô hình sản xuất và mở 22 lớp sơ cấp nghề cho 842 lao động. Đây là hàm ý chính sách trực tiếp cho Hạ Hòa.

Kết quả cũng đồng thuận với nhận định từ nghiên cứu "Tấn công đói nghèo" (WB, 2000) và luận án của tác giả Nguyễn Thị Hoa (2009): rào cản lớn nhất đối với chính sách xóa đói giảm nghèo nằm ở khâu tổ chức thực hiện chứ không phải ở thiết kế chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Đổi mới công tác ban hành văn bản và xây dựng kế hoạch triển khai. Ban vận động huyện chủ trì ban hành kế hoạch vận động hằng năm trước ngày 30/9, gắn với cao điểm 17/10 – 18/11 theo quy chế; đặt chỉ tiêu định lượng cho từng xã, thị trấn. Chủ thể thực hiện: Ủy ban MTTQ huyện phối hợp Phòng Tài chính. Timeline: hoàn thành trong quý IV hằng năm đến 2022.

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách. Khai thác hệ thống đài truyền thanh đã phủ 32/32 xã và 1 thị trấn để phát chuyên mục định kỳ về Quỹ, công khai danh sách đóng góp và đối tượng thụ hưởng. Mục tiêu: nâng tỷ lệ hộ dân nắm rõ quy chế quỹ lên trên 80% vào năm 2022. Chủ thể: Ban Tuyên giáo Huyện ủy và Ủy ban MTTQ các cấp.

Mở rộng nguồn huy động và siết chặt quản lý thu. Bổ sung nhóm đối tượng vận động là doanh nghiệp do huyện quản lý và con em xa quê; toàn bộ khoản thu phải nhập tài khoản Kho bạc Nhà nước cùng cấp, ngoại tệ quy đổi VND theo đúng quy chế. Mục tiêu: tăng tổng thu quỹ tối thiểu 10%/năm giai đoạn 2019–2022. Chủ thể: Trưởng Ban vận động quỹ huyện.

Kiện toàn hoạt động giám sát, kiểm tra. Thành lập đoàn giám sát cấp huyện kiểm tra ít nhất 2 lần/năm tại các xã có nguồn thu và mức chi lớn; công khai quyết toán thu – chi theo quý; kiểm soát chặt trần chi quản lý quỹ không vượt 5% tổng thu hằng năm. Chủ thể: Ban Thường trực Ủy ban MTTQ và Phòng Tài chính huyện.

Chuyển trọng tâm chi từ trợ cấp sang tạo sinh kế. Ưu tiên phân bổ cho hỗ trợ vốn sản xuất, giống cây con, đào tạo nghề gắn với thế mạnh địa phương (thủy sản trên hệ thống hồ đầm, lâm nghiệp trên 13.779,48 ha đất lâm nghiệp, du lịch tại Đền Mẫu Âu Cơ và đầm Ao Châu). Mục tiêu: mỗi năm hỗ trợ tối thiểu 300 hộ nghèo có mô hình sinh kế, giai đoạn 2019–2022. Chủ thể: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp Phòng Nông nghiệp.

Kiến nghị cấp trên. Đề nghị Chính phủ ổn định chuẩn nghèo theo chu kỳ đủ dài để địa phương lập kế hoạch trung hạn; đề nghị Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn thống nhất phần mềm kế toán quỹ theo Thông tư 77/2007/TT-BTC.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ Mặt trận Tổ quốc và Ban vận động quỹ các cấp là nhóm hưởng lợi trực tiếp. Luận văn cung cấp bức tranh đầy đủ về bốn cấp tổ chức quỹ (Trung ương, tỉnh, huyện, xã), thành phần Ban vận động và trần chi quản lý 5% – hữu ích khi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ hoặc chuẩn bị quyết toán quý.

Cán bộ quản lý nhà nước cấp huyện phụ trách giảm nghèo có thể sử dụng bộ dữ liệu 2016–2018 về đất đai, dân số, giáo dục, hạ tầng của Hạ Hòa làm mẫu đối sánh khi lập báo cáo đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia. Đặc biệt hữu ích là cách xử lý vấn đề chuẩn nghèo thay đổi làm sai lệch chỉ tiêu giảm nghèo – tình huống mọi huyện đều gặp khi chuyển giai đoạn chính sách.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Công tác xã hội tìm thấy ở đây một khung phân tích hoàn chỉnh cho đề tài quản lý quỹ xã hội hóa cấp địa phương: từ tổng quan tài liệu trong và ngoài nước, hệ thống văn bản pháp lý, đến thiết kế khảo sát 150 phiếu. Đây là mẫu tham khảo tốt cho luận văn có cấu trúc ba chương lý luận – thực trạng – giải pháp.

Tổ chức phi chính phủ và nhà tài trợ hoạt động trong lĩnh vực giảm nghèo dùng luận văn để hiểu cơ chế tiếp nhận tài trợ có mục đích, có địa chỉ tại Việt Nam, cùng quy trình giám sát giải ngân làm nhà ở cho hộ nghèo – thông tin cần thiết trước khi thiết kế dự án phối hợp với chính quyền địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Quỹ "Vì người nghèo" khác gì với ngân sách chương trình giảm nghèo của Nhà nước? Quỹ hình thành từ đóng góp tự nguyện của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, hoạt động phi lợi nhuận theo nguyên tắc tự tạo vốn, tự trang trải chi phí. Ngân sách nhà nước là nguồn công, phân bổ theo dự toán. Quỹ được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để theo dõi thu – chi, và tồn quỹ năm trước được chuyển sang năm sau sử dụng.

Tiền quỹ được chi cho những nội dung nào? Theo quy chế, quỹ hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo về: tiền mua vật tư nông nghiệp như giống cây, con; xây mới và sửa chữa nhà ở; hỗ trợ con em đi học; chữa bệnh khi ốm đau nằm viện dài ngày; cứu đói khi cần thiết. Mức chi cụ thể do Trưởng Ban vận động từng cấp quyết định sau khi thống nhất với các thành viên, bảo đảm phù hợp khả năng quỹ.

Chi phí quản lý quỹ có bị khống chế không? Có. Các khoản chi hoạt động quản lý không được vượt quá 5% tổng số tiền thu hàng năm của quỹ ở từng cấp, bao gồm chi tuyên truyền vận động, khen thưởng, hội nghị sơ kết tổng kết, công tác phí kiểm tra, lương và bảo hiểm cho cán bộ hợp đồng, văn phòng phẩm. Đây là ràng buộc quan trọng bảo đảm phần lớn nguồn lực đến trực tiếp người nghèo.

Vì sao tỷ lệ hộ nghèo có lúc tăng dù công tác giảm nghèo vẫn triển khai tốt? Do chuẩn nghèo được điều chỉnh nâng lên theo giai đoạn. Khi chuẩn khu vực nông thôn nâng từ 200.000 đồng lên 400.000 đồng/người/tháng, số hộ nghèo tại Phú Thọ tăng từ trên 28% (2010) lên 31,91% (2011). Đây là hiệu ứng kỹ thuật của thước đo, không phản ánh đời sống người dân xấu đi.

Bài học nào từ các huyện khác có thể áp dụng cho Hạ Hòa? Luận văn rút ra năm bài học: điều tra xây dựng cơ sở dữ liệu hộ nghèo chính xác; làm tốt tuyên truyền để xóa tư tưởng trông chờ ỷ lại; xã hội hóa hoạt động giảm nghèo; đầu tư có trọng điểm gắn với kiểm tra; lồng ghép chương trình phát triển kinh tế – xã hội với giảm nghèo nhằm nâng cao năng lực nội tại của hộ nghèo.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về quản lý sử dụng Quỹ "Vì người nghèo" trên bốn trụ cột: khái niệm và vai trò, nguyên tắc, công cụ quản lý và nội dung quản lý.
  • Nghiên cứu đánh giá thực trạng tại huyện Hạ Hòa giai đoạn 2016–2018 dựa trên dữ liệu thứ cấp ba năm và khảo sát 150 phiếu, chỉ rõ hạn chế tập trung ở khâu tổ chức thực hiện và giám sát chứ không ở thiết kế chính sách.
  • Đóng góp mới nổi bật là lấp khoảng trống nghiên cứu về quản trị tài chính quỹ xã hội hóa cấp huyện tại địa bàn miền núi tỉnh Phú Thọ – nội dung chưa từng được nghiên cứu toàn diện.
  • Hệ giải pháp gồm tám nhóm và ba kiến nghị hướng tới mốc 2022, ưu tiên chuyển trọng tâm từ trợ cấp sang tạo sinh kế bền vững cho hộ nghèo.
  • Lộ trình triển khai đề xuất: hoàn thiện quy chế và kế hoạch vận động trong quý IV hằng năm, giám sát hai lần mỗi năm, đánh giá tổng thể vào cuối năm 2022.

Bạn đọc quan tâm đến quản lý quỹ an sinh xã hội cấp địa phương nên tham khảo toàn văn luận văn để khai thác chi tiết các bảng số liệu và phụ lục khảo sát.