Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục, đào tạo 1. Các công trình khoa học nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Phối hợp các lực lượng xã hội trong GD, ĐT đáp ứng xây dựng, phát triển nguồn lực lao động cho xã hội là yêu cầu khách quan đối với mỗi quốc gia dân tộc. Mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể thường có cách tiếp cận và bàn luận nông, sâu về phối hợp các lực lượng trong đào tạo nguồn lực lao động cho xã hội không hoàn toàn giống nhau.
Một là, có những công trình khoa học nghiên cứu về tính tất yếu, nội dung, lợi ích, biện pháp thúc đẩy sự phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong GD,ĐT. Tổ chức Cedefop (European Centre for the Development of Vocational Training Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu) cũng như các tác giả: Kathrin Hoeckel [148]; Rita Nikolai and Christian Ebner [150] đã có những kiến giải mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất, dịch vụ trong quá trình đào tạo nghề. Đáng chú ý, Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu (Cedefop) từ năm 2005 đến 2009 đã triển khai nghiên cứu về nội dung, phương thức phối hợp giữa nhà trường với xã hội theo nhiều hướng khác nhau tại 21 quốc gia châu Âu (Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Phần Lan, Thụy Điển. Để chỉ rõ sự cần thiết, nguyên tắc, nội dung và lợi ích của hợp tác, liên kết giữa nhà trường và xã hội, trực tiếp là các nhà máy, công ty trong quá trình đào tạo nghề; chỉ rõ tầm quan trọng và lợi ích mang lại cho cả hai phía nhà trường và cộng đồng xã hội, biểu hiện ở 3 cấp độ: cấp độ vi mô (lợi ích của cá nhân); cấp độ trung gian 15 (lợi ích của tổ chức); cấp độ vĩ mô (lợi ích của xã hội).Komenxki (15921670), người đầu tiên đưa ra hệ thống lý luận cơ bản, phổ biến về mối quan hệ biện chứng giữa nhà trường và xã hội trong GD, ĐT.Komenxki, động lực của hoạt động giáo dục không thể thiếu vắng sự tham gia của cộng đồng xã hội.
Trong thực hiện mục đích GD, ĐT thế hệ tương lai đối với Nhà nước XHCN, các nhà giáo dục của Liên Xô (cũ) chỉ ra tính tất yếu, vai trò của phối hợp giữa nhà trường và xã hội.Xukhomlinxki (19181970) quan niệm: nếu nhà trường không có sự phối hợp với chính quyền, tổ chức quần chúng để thống nhất mục đích, nội dung, hình thức giáo dục,. thì sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất, đồng bộ trong giáo dục, hoạt động GD, ĐT sẽ khó đạt được mục tiêu đặt ra.X Macarencô (18881939), đã thể hiện tư tưởng của mình là: Tôi kiên trì nói rằng, các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề dạy học trên lớp, trái lại cần có sự phối hợp giữa các chủ thể giáo dục nhà trường với cộng đồng xã hội. Nghiên cứu về biện pháp thúc đẩy phối hợp các lực lượng xã hội trong GD, ĐT có: Chun Gyun Jung [147]; Lisbeth Lundahh and Theodor Sander [149]; Rita Nikolai and Christian Ebner [150]. đã đề cập tới nhiều giải pháp phối hợp mang lại hiệu quả tích cực cho nhà trường, người học và xã hội.
Theo tác giả Frank Bünning và Schnarr cần chú ý đến hoạt động xúc tiến chiến dịch cộng tác (strategic partnership) giữa các lực lượng, như: cá nhân; gia đình; cộng đồng; các tổ chức tình nguyện; cơ sở đào tạo nghề tư nhân; cơ sở đào tạo nghề quốc gia; công nhân và tổ chức; người quản lý và tổ chức; Hai là, một số công trình khoa học nghiên cứu về chính sách liên quan tới phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề. Có thể kể đến 16 các công trình khoa học: Chana Kasipar, SeYung LIM, Alexander Schnarr, Wu Quan, Xu Ying, Frank Bünning [146]; Tazeen Fasih [151]. nhấn mạnh tới vai trò, trách nhiệm của xã hội, đặc biệt là các đơn vị sản xuất, kinh doanh về đóng góp cho quỹ đào tạo, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; về chính sách đào tạo nghề miễn phí cho một số học sinh, sinh viên thuộc nhóm gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Những năm gần đây, một số nước phương Tây đã chú ý đề cao hơn vai trò của phối hợp giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng xã hội để cùng tham gia giáo dục.
Cuốn sách, “Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng đóng góp cho giáo dục trong các điều kiện xung đột” của tác giả Laura Brannelly và Joan SullivanOwomoyela đã đề cập đến sự tham gia xây dựng và phát triển giáo dục của các lực lượng cộng đồng xã hội ở các nước Jordan, Afghanistan, Iraq, Liberia, Uganda và vùng lãnh thổ Palestine. Các tác giả đã nghiên cứu sự tham gia của các lực lượng xã hội vào giáo dục trong hoàn cảnh chính trị của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau. Nội dung của cuốn sách đã khẳng định tầm quan trọng của các lực lượng xã hội đối với việc tái thiết đất nước sau xung đột và xây dựng lại giáo dục [152]. Cuốn sách: Mối quan hệ trong nhà trường là những mối quan tâm lớn nhất” của tác giả Cotton Kathleen đã bàn về sự tham gia của các lực lượng xã hội vào giáo dục nói chung, đào tạo nguồn lực lao động xã hội.
Theo tác giả, sự tham gia của các lực lượng xã hội trong quá trình GD, ĐT với nhiều hình thức khác nhau; khẳng định vai trò của các lực lượng xã hội trong phối hợp với nhà trường để tổ chức quá trình đào tạo, nhất là đầu tư CSVC, xây dựng môi trường lành mạnh cho người học. Như vậy, có nhiều cách tiếp cận, mục đích khác nhau khi bàn về 17 phối hợp giữa nhà trường và xã hội. Các công trình khoa học đã công bố trên đây bàn về một vấn đề nào đó, như tầm quan trọng hoặc sự cần thiết, … của phối hợp. Tuy nhiên, chưa đi sâu luận giải nội dung, phương thức phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng 1.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Nghiên cứu về thực trạng đào tạo nghề: Báo cáo tổng quan về đào tạo nghề ở Việt Nam [4]. Tổng cục dạy nghề (2012). Tổng cục Giáo dục nghề nghiêp (2018) Báo cáo công tác tuyển sinh năm 2017 [124]. Các công trình khoa học đã chỉ rõ sự cần thiết phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng xã hội trong đào tạo nghề trong giai đoạn mới.
Đáng chú ý, bài viết của tác giả Phạm Bá Phong (2014),“ Bàn về quan hệ hợp tác giữa nhà trường đại học với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực” [83]. Theo tác giả, đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội là một vấn đề bức thiết để thực hiện quy luật cung cầu trong cơ chế thị trường. Bài viết trình bày kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo và chính sách đào tạo nhân lực trình độ cao đẳng, đáp ứng nhu cầu xã hội ở nước ta hiện nay [83]. Một số bài viết nghiên cứu những khía cạnh cụ thể về đào tạo nghề, về phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong đào tạo nghề: Tác giả Nguyễn Đức Trí (2008), đi sâu nghiên cứu về Giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường lao động [127].
Trên cơ sở luận chứng cơ sở khoa học về nhu cầu của thị trường lao động, thực trạng giáo dục nghề nghiệp; tác giả đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong đào tạo nghề; luận chứng nhu cầu số lượng, cơ cấu lao động, qui hoạch lại mạng lưới hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, xây dựng một số loại tiêu chuẩn cần thiết cho giáo dục nghề nghiệp, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng dạy nghề, gắn kết 18 giữa đào tạo và sử dụng. Nghiên cứu về kinh nghiệm phối hợp nhà trường và các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nhà trường; tư vấn hướng nghiệp, nhu cầu đào tạo, mô hình đào tạo nghề gắn với sản xuất, thị trường lao động của một số quốc gia trên thế giới (Thụy Điển, Malaysia, Đức, New Zealand,. Trong đó, tiêu biểu là công trình khoa học luận giải những kinh nghiệm chuẩn hóa đào tạo nghề của Cộng Hòa Liên bang Đức [121]; hoặc, tác giả Trần Văn Hùng (2010): Kinh nghiệm của New Zealand trong việc xác định nhu cầu đào tạo và nhu cầu lao động” đã trả lời câu hỏi: nền kinh tế cần bao nhiêu nhân lực, cơ cấu nghề nghiệp thế nào, cần đào tạo bao nhiêu, cơ cấu đào tạo ra sao? Kinh nghiệm của New Zealand đáng chú ý ở chỗ họ xác định nhu cầu đào tạo và nhu cầu lao động trong mối quan hệ kinh tế lao động đào tạo. Nguyễn Thị Hằng (2013) Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề đáp ứng nhu cầu xã hội: Quan niệm và giải pháp thực hiện [30].
Các tác giả đã phân tích nhu cầu đào tạo nghề để phục vụ phát triển KTXH của đất nước; làm rõ hạn chế, khuyết điểm trong đào tạo nghề ở nước ta hiện nay. Theo tác giả, đào tạo nghề chưa gắn với chiến lược phát triển KTXH, sự phân bố các trường cao đẳng nghề không hợp lý, nội dung chương trình, phương pháp dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; quản lý nhà nước về đào tạo nghề hiệu quả chưa cao. * Hai là, nghiên cứu về phối hợp giữa nhà trường và xã hội, phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề Một số luận án bàn về sự phối hợp giữa nhà trườ ng và cộng đồ ng xã hội trong đào tạo nghề với những cách tiếp cận từ những phương diện khác nhau, như: Đặng Văn Thành (2002), Phương pháp đào tạo 19 nghề gắn với thị trường lao động ở Việt Nam [108]; Phan Chính Thức (2003), Những giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNHHĐH” [119]; Trần Khắc Hoàn (2006), Kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [37]; Nguyễn Văn Tuân (2013), Phối hợp dạy học thực hành nghề giữa các trườ ng dạy nghề với các cơ sở sử dụng lao động [125].