Luận án TS: Quản lý phối hợp lực lượng xã hội trong đào tạo nghề tại Hà Nội

Luận án quản lý giáo dục đề xuất giải pháp quản lý phối hợp lực lượng xã hội, nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trường cao đẳng Hà Nội.

Trường đại học

Học viện Chính trị

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2021

265
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục, đào tạo

1.2. Các công trình nghiên cứu về quản lý phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề, đáp ứng nguồn lực lao động cho xã hội

1.3. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

2. Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG

2.1. Những vấn đề lý luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng

2.2. Những vấn đề lý luận về quản lý phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng

2.3. Những yếu tố tác động đến quản lý phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội

3. Chương 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Khái quát về các trường cao đẳng và công tác đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

3.2. Tổ chức khảo sát thực trạng

3.3. Thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.4. Thực trạng quản lý phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.5. Thực trạng những yếu tố tác động đến quản lý phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.6. Đánh giá chung về quản lý phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội

4. Chương 4: BIỆN PHÁP, KHẢO NGHIỆM VÀ THỬ NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

4.1. Những biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

4.2. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

4.3. Thử nghiệm một số biện pháp

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý đào tạo nghề Vai trò lực lượng xã hội

Quản lý đào tạo nghề trong bối cảnh hiện đại không còn là nhiệm vụ riêng của các cơ sở giáo dục. Sự tham gia của các lực lượng xã hội đã trở thành yếu tố quyết định, đặc biệt tại các trường cao đẳng trên địa bàn Hà Nội. Chủ trương này nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp từ cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức để nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Quá trình này không chỉ giúp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn đảm bảo sinh viên ra trường đáp ứng chính xác yêu cầu của thị trường lao động Hà Nội. Việc phối hợp hiệu quả các lực lượng xã hội chính là chìa khóa để thực hiện thành công mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.

1.1. Tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp

Khái niệm xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nhấn mạnh sự tham gia và chia sẻ trách nhiệm của toàn xã hội vào quá trình đào tạo. Đây không chỉ là việc huy động nguồn lực tài chính mà còn là sự đóng góp về trí tuệ, kinh nghiệm và công nghệ. Khi xã hội tham gia, chương trình đào tạo sẽ không còn mang tính hàn lâm, xa rời thực tế. Thay vào đó, nó phản ánh trực tiếp nhu cầu và xu hướng của thị trường. Theo luận án của Nguyễn Thị Tố Nga (2021), mục đích của sự phối hợp này là "tạo sự thống nhất giữa các lực lượng xã hội trong thực hiện mục tiêu đào tạo nghề", từ đó phát huy tối đa tiềm năng của cộng đồng. Điều này giúp đảm bảo chuẩn đầu ra cho sinh viên không chỉ vững về lý thuyết mà còn thành thạo kỹ năng thực hành, sẵn sàng làm việc ngay sau khi tốt nghiệp.

1.2. Xác định các lực lượng xã hội then chốt trong đào tạo

Các lực lượng xã hội tham gia vào hợp tác đào tạo rất đa dạng. Nổi bật nhất là khối doanh nghiệp, những đơn vị sử dụng lao động cuối cùng. Bên cạnh đó là các hiệp hội nghề nghiệp, chuyên gia trong ngành, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội. Mỗi lực lượng đóng một vai trò riêng biệt. Doanh nghiệp cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực, tạo điều kiện thực tập và tham gia xây dựng chương trình. Hiệp hội nghề nghiệp giúp kết nối, định hướng và đánh giá chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn ngành. Chính quyền địa phương ban hành các chính sách hỗ trợ và tạo hành lang pháp lý thuận lợi. Sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng này tạo ra một hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp bền vững và hiệu quả.

II. Thách thức trong quản lý đào tạo nghề tại CĐ Hà Nội

Mặc dù chủ trương phối hợp các lực lượng xã hội trong quản lý đào tạo nghề là đúng đắn, quá trình triển khai tại các trường CĐ Hà Nội vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Thực trạng đào tạo nghề cho thấy sự thiếu đồng bộ trong nhận thức và hành động giữa các bên liên quan. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn tâm lý e ngại, xem việc hợp tác là gánh nặng thay vì đầu tư cho tương lai. Các cơ chế, chính sách hiện hành đôi khi chưa đủ mạnh để khuyến khích sự tham gia tích cực. Việc giải quyết những thách thức này đòi hỏi một cái nhìn toàn diện và các giải pháp mang tính đột phá, nhằm tháo gỡ các nút thắt trong liên kết nhà trường và doanh nghiệp.

2.1. Thực trạng nhận thức và trách nhiệm của các bên

Một trong những rào cản lớn nhất đến từ nhận thức. Nghiên cứu chỉ ra rằng, "một số cấp uỷ Đảng, chính quyền... và doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ vị trí, tầm quan trọng của sự phối hợp" (Nguyễn Thị Tố Nga, 2021). Về phía nhà trường, một số đơn vị còn thụ động, chưa chủ động tìm kiếm đối tác. Về phía doanh nghiệp, nhiều nơi vẫn coi việc nhận sinh viên thực tập là hình thức hỗ trợ đơn thuần, chưa thấy được vai trò của doanh nghiệp trong việc định hình chất lượng nhân lực tương lai. Trách nhiệm chưa được phân định rõ ràng dẫn đến tình trạng đùn đẩy, thiếu cam kết dài hạn, làm cho hoạt động phối hợp mang tính hình thức, không đi vào chiều sâu.

2.2. Rào cản trong cơ chế phối hợp và chính sách hỗ trợ

Cơ chế phối hợp hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập. Thiếu một khung pháp lý rõ ràng quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp tác đào tạo. Các chính sách hỗ trợ như ưu đãi thuế, hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp tham gia đào tạo còn hạn chế và chưa đủ hấp dẫn. Việc thiếu một cơ quan đầu mối điều phối chung cũng gây khó khăn trong việc kết nối các trường CĐ với hàng ngàn doanh nghiệp trên địa bàn. Những rào cản này làm giảm động lực huy động nguồn lực xã hội, khiến tiềm năng hợp tác to lớn chưa được khai thác triệt để, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý đào tạo nghề.

III. Phương pháp liên kết nhà trường và doanh nghiệp hiệu quả

Để vượt qua các thách thức, việc xây dựng một phương pháp liên kết nhà trường và doanh nghiệp bài bản là yêu cầu cấp thiết. Mối quan hệ này cần được chuyển từ bị động, tự phát sang chủ động, có chiến lược. Trọng tâm của phương pháp này là đặt nhu cầu của doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình đào tạo. Các trường CĐ Hà Nội cần tiên phong trong việc đổi mới chương trình, áp dụng các mô hình tiên tiến và tạo ra cơ chế hợp tác linh hoạt. Chỉ khi đó, mục tiêu đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp mới thực sự trở thành hiện thực, tạo ra lợi ích kép cho cả hai bên và cho xã hội.

3.1. Xây dựng chương trình đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp

Chương trình đào tạo là xương sống của mọi hoạt động giáo dục. Thay vì xây dựng chương trình một cách độc lập, các trường cần mời đại diện doanh nghiệp, chuyên gia ngành tham gia ngay từ khâu thiết kế, thẩm định và cập nhật. Nội dung giảng dạy phải tích hợp các công nghệ mới, quy trình sản xuất thực tế và các kỹ năng mềm mà doanh nghiệp cần. Việc này đảm bảo chuẩn đầu ra cho sinh viên không bị lạc hậu so với thực tiễn. Doanh nghiệp không chỉ đóng góp ý kiến mà còn có thể tham gia giảng dạy một số học phần chuyên ngành, giúp sinh viên tiếp cận kiến thức và kinh nghiệm thực chiến một cách trực tiếp.

3.2. Triển khai mô hình đào tạo kép và thực tập thực tế

Một trong những giải pháp đột phá là áp dụng mô hình đào tạo kép, nơi sinh viên dành một phần lớn thời gian học tập và làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp. Mô hình này, đã rất thành công ở Đức, giúp sinh viên vừa học lý thuyết tại trường, vừa được rèn luyện tay nghề trong môi trường chuyên nghiệp. Các chương trình thực tập cần được thiết kế lại, có mục tiêu rõ ràng, có sự giám sát và đánh giá chung giữa nhà trường và doanh nghiệp. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đào tạo nghề mà còn giúp doanh nghiệp sàng lọc và tuyển dụng được những nhân sự phù hợp nhất ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

IV. Bí quyết quản lý phối hợp các lực lượng xã hội toàn diện

Quản lý phối hợp không chỉ dừng lại ở việc ký kết các văn bản hợp tác. Nó đòi hỏi một hệ thống quản lý chủ động, linh hoạt và có sự tham gia của nhiều chủ thể. Bí quyết nằm ở việc xây dựng một cơ chế vận hành thông suốt, trong đó vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên được xác định rõ ràng. Việc huy động nguồn lực xã hội cần được thực hiện một cách có kế hoạch, tập trung vào những lĩnh vực then chốt. Quá trình này phải được giám sát, đánh giá thường xuyên để kịp thời điều chỉnh, đảm bảo các hoạt động phối hợp luôn đi đúng hướng và mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác giáo dục nghề nghiệp (GDNN).

4.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách huy động nguồn lực xã hội

Nhà nước và chính quyền thành phố Hà Nội cần đóng vai trò kiến tạo thông qua việc ban hành các chính sách hỗ trợ cụ thể và hấp dẫn. Các chính sách này có thể bao gồm: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các công ty tham gia sâu vào đào tạo; thành lập quỹ phát triển GDNN từ đóng góp của doanh nghiệp; đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc liên kết. Luận án của Nguyễn Thị Tố Nga đề xuất cần "Chỉ đạo phối hợp các lực lượng xã hội trong xây dựng hệ thống thông tin tuyển sinh, chương trình đào tạo". Một cơ chế rõ ràng sẽ là nền tảng vững chắc để các hoạt động phối hợp được triển khai một cách bền vững và quy mô.

4.2. Nâng cao vai trò của hiệp hội nghề nghiệp và chuyên gia

Các hiệp hội nghề nghiệp có vai trò như một cầu nối quan trọng. Họ có thể đứng ra tổ chức các diễn đàn kết nối giữa nhà trường và hàng trăm doanh nghiệp thành viên. Hiệp hội cũng là đơn vị xây dựng các bộ tiêu chuẩn nghề, tổ chức các kỳ thi đánh giá kỹ năng và cấp chứng chỉ có giá trị toàn quốc. Bên cạnh đó, việc mời các chuyên gia đầu ngành tham gia vào hội đồng khoa học, hội đồng trường sẽ giúp định hướng chiến lược đào tạo một cách sắc bén, bắt kịp xu thế của thế giới. Việc phát huy vai trò của các tổ chức trung gian này sẽ giúp công tác quản lý đào tạo nghề trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.

V. Hướng đi tương lai cho quản lý đào tạo nghề tại Hà Nội

Bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục nghề nghiệp. Hướng đi tương lai của công tác quản lý đào tạo nghề tại các trường CĐ Hà Nội phải là sự chủ động thích ứng và đổi mới không ngừng. Việc phối hợp các lực lượng xã hội không còn là lựa chọn mà là con đường tất yếu để tồn tại và phát triển. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống GDNN mở, linh hoạt, có khả năng tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới, đóng góp vào sự phát triển bền vững của Thủ đô.

5.1. Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho cách mạng 4.0

Cách mạng 4.0 đòi hỏi người lao động phải có các kỹ năng liên ngành như phân tích dữ liệu, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo bên cạnh kỹ năng chuyên môn. Do đó, hoạt động liên kết nhà trường và doanh nghiệp cần tập trung vào việc xây dựng các phòng thí nghiệm chung, các trung tâm R&D ứng dụng. Chương trình đào tạo cần được mô-đun hóa, cho phép người học dễ dàng cập nhật kiến thức mới. Mục tiêu không chỉ là đào tạo ra những người thợ lành nghề, mà là những kỹ thuật viên, chuyên gia có tư duy sáng tạo, khả năng tự học và thích ứng với sự thay đổi công nghệ không ngừng.

5.2. Kiến nghị giải pháp vĩ mô cho giáo dục nghề nghiệp

Để hoạt động phối hợp đi vào thực chất, cần có những giải pháp ở tầm vĩ mô. Cần xây dựng một hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia và của thành phố Hà Nội một cách khoa học. Kết quả dự báo này phải được công bố rộng rãi để các trường CĐ có cơ sở xây dựng kế hoạch tuyển sinh và đào tạo. Cần có chiến dịch truyền thông mạnh mẽ để thay đổi nhận thức xã hội về học nghề, đề cao giá trị của lao động có kỹ năng. Việc đồng bộ hóa các giải pháp từ chính sách, cơ chế đến thực thi sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ, đưa xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp lên một tầm cao mới.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục, đào tạo 1. Các công trình khoa học nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Phối hợp các lực lượng xã hội trong GD, ĐT đáp ứng xây dựng, phát triển nguồn lực lao động cho xã hội là yêu cầu khách quan đối với mỗi quốc gia ­ dân tộc. Mỗi giai đoạn lịch sử ­ cụ thể thường có cách tiếp cận và bàn luận nông, sâu về phối hợp các lực lượng trong đào tạo nguồn lực lao động cho xã hội không hoàn toàn giống nhau.

Một là, có những công trình khoa học nghiên cứu về tính tất yếu, nội dung, lợi ích, biện pháp thúc đẩy sự phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong GD,ĐT. Tổ chức Cedefop (European Centre for the Development of Vocational Training ­ Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu) cũng như các tác giả: Kathrin Hoeckel [148]; Rita Nikolai and Christian Ebner [150] đã có những kiến giải mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất, dịch vụ trong quá trình đào tạo nghề. Đáng chú ý, Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu (Cedefop) từ năm 2005 đến 2009 đã triển khai nghiên cứu về nội dung, phương thức phối hợp giữa nhà trường với xã hội theo nhiều hướng khác nhau tại 21 quốc gia châu Âu (Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Phần Lan, Thụy Điển. Để chỉ rõ sự cần thiết, nguyên tắc, nội dung và lợi ích của hợp tác, liên kết giữa nhà trường và xã hội, trực tiếp là các nhà máy, công ty trong quá trình đào tạo nghề; chỉ rõ tầm quan trọng và lợi ích mang lại cho cả hai phía nhà trường và cộng đồng xã hội, biểu hiện ở 3 cấp độ: cấp độ vi mô (lợi ích của cá nhân); cấp độ trung gian 15 (lợi ích của tổ chức); cấp độ vĩ mô (lợi ích của xã hội).Komenxki (1592­1670), người đầu tiên đưa ra hệ thống lý luận cơ bản, phổ biến về mối quan hệ biện chứng giữa nhà trường và xã hội trong GD, ĐT.Komenxki, động lực của hoạt động giáo dục không thể thiếu vắng sự tham gia của cộng đồng xã hội.

Trong thực hiện mục đích GD, ĐT thế hệ tương lai đối với Nhà nước XHCN, các nhà giáo dục của Liên Xô (cũ) chỉ ra tính tất yếu, vai trò của phối hợp giữa nhà trường và xã hội.Xukhomlinxki (1918­1970) quan niệm: nếu nhà trường không có sự phối hợp với chính quyền, tổ chức quần chúng để thống nhất mục đích, nội dung, hình thức giáo dục,. thì sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất, đồng bộ trong giáo dục, hoạt động GD, ĐT sẽ khó đạt được mục tiêu đặt ra.X Macarencô (1888­1939), đã thể hiện tư tưởng của mình là: Tôi kiên trì nói rằng, các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề dạy học trên lớp, trái lại cần có sự phối hợp giữa các chủ thể giáo dục nhà trường với cộng đồng xã hội. Nghiên cứu về biện pháp thúc đẩy phối hợp các lực lượng xã hội trong GD, ĐT có: Chun Gyun Jung [147]; Lisbeth Lundahh and Theodor Sander [149]; Rita Nikolai and Christian Ebner [150]. đã đề cập tới nhiều giải pháp phối hợp mang lại hiệu quả tích cực cho nhà trường, người học và xã hội.

Theo tác giả Frank Bünning và Schnarr cần chú ý đến hoạt động xúc tiến chiến dịch cộng tác (strategic partnership) giữa các lực lượng, như: cá nhân; gia đình; cộng đồng; các tổ chức tình nguyện; cơ sở đào tạo nghề tư nhân; cơ sở đào tạo nghề quốc gia; công nhân và tổ chức; người quản lý và tổ chức; Hai là, một số công trình khoa học nghiên cứu về chính sách liên quan tới phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề. Có thể kể đến 16 các công trình khoa học: Chana Kasipar, Se­Yung LIM, Alexander Schnarr, Wu Quan, Xu Ying, Frank Bünning [146]; Tazeen Fasih [151]. nhấn mạnh tới vai trò, trách nhiệm của xã hội, đặc biệt là các đơn vị sản xuất, kinh doanh về đóng góp cho quỹ đào tạo, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; về chính sách đào tạo nghề miễn phí cho một số học sinh, sinh viên thuộc nhóm gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Những năm gần đây, một số nước phương Tây đã chú ý đề cao hơn vai trò của phối hợp giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng xã hội để cùng tham gia giáo dục.

Cuốn sách, “Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng đóng góp cho giáo dục trong các điều kiện xung đột” của tác giả Laura Brannelly và Joan Sullivan­Owomoyela đã đề cập đến sự tham gia xây dựng và phát triển giáo dục của các lực lượng cộng đồng xã hội ở các nước Jordan, Afghanistan, Iraq, Liberia, Uganda và vùng lãnh thổ Palestine. Các tác giả đã nghiên cứu sự tham gia của các lực lượng xã hội vào giáo dục trong hoàn cảnh chính trị của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau. Nội dung của cuốn sách đã khẳng định tầm quan trọng của các lực lượng xã hội đối với việc tái thiết đất nước sau xung đột và xây dựng lại giáo dục [152]. Cuốn sách: Mối quan hệ trong nhà trường là những mối quan tâm lớn nhất” của tác giả Cotton Kathleen đã bàn về sự tham gia của các lực lượng xã hội vào giáo dục nói chung, đào tạo nguồn lực lao động xã hội.

Theo tác giả, sự tham gia của các lực lượng xã hội trong quá trình GD, ĐT với nhiều hình thức khác nhau; khẳng định vai trò của các lực lượng xã hội trong phối hợp với nhà trường để tổ chức quá trình đào tạo, nhất là đầu tư CSVC, xây dựng môi trường lành mạnh cho người học. Như vậy, có nhiều cách tiếp cận, mục đích khác nhau khi bàn về 17 phối hợp giữa nhà trường và xã hội. Các công trình khoa học đã công bố trên đây bàn về một vấn đề nào đó, như tầm quan trọng hoặc sự cần thiết, … của phối hợp. Tuy nhiên, chưa đi sâu luận giải nội dung, phương thức phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề ở các trường cao đẳng 1.

Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Nghiên cứu về thực trạng đào tạo nghề: Báo cáo tổng quan về đào tạo nghề ở Việt Nam [4]. Tổng cục dạy nghề (2012). Tổng cục Giáo dục nghề nghiêp (2018) Báo cáo công tác tuyển sinh năm 2017 [124]. Các công trình khoa học đã chỉ rõ sự cần thiết phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng xã hội trong đào tạo nghề trong giai đoạn mới.

Đáng chú ý, bài viết của tác giả Phạm Bá Phong (2014),“ Bàn về quan hệ hợp tác giữa nhà trường đại học với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực” [83]. Theo tác giả, đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội là một vấn đề bức thiết để thực hiện quy luật cung ­ cầu trong cơ chế thị trường. Bài viết trình bày kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo và chính sách đào tạo nhân lực trình độ cao đẳng, đáp ứng nhu cầu xã hội ở nước ta hiện nay [83]. Một số bài viết nghiên cứu những khía cạnh cụ thể về đào tạo nghề, về phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong đào tạo nghề: Tác giả Nguyễn Đức Trí (2008), đi sâu nghiên cứu về Giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường lao động [127].

Trên cơ sở luận chứng cơ sở khoa học về nhu cầu của thị trường lao động, thực trạng giáo dục nghề nghiệp; tác giả đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong đào tạo nghề; luận chứng nhu cầu số lượng, cơ cấu lao động, qui hoạch lại mạng lưới hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, xây dựng một số loại tiêu chuẩn cần thiết cho giáo dục nghề nghiệp, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng dạy nghề, gắn kết 18 giữa đào tạo và sử dụng. Nghiên cứu về kinh nghiệm phối hợp nhà trường và các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nhà trường; tư vấn hướng nghiệp, nhu cầu đào tạo, mô hình đào tạo nghề gắn với sản xuất, thị trường lao động của một số quốc gia trên thế giới (Thụy Điển, Malaysia, Đức, New Zealand,. Trong đó, tiêu biểu là công trình khoa học luận giải những kinh nghiệm chuẩn hóa đào tạo nghề của Cộng Hòa Liên bang Đức [121]; hoặc, tác giả Trần Văn Hùng (2010): Kinh nghiệm của New Zealand trong việc xác định nhu cầu đào tạo và nhu cầu lao động” đã trả lời câu hỏi: nền kinh tế cần bao nhiêu nhân lực, cơ cấu nghề nghiệp thế nào, cần đào tạo bao nhiêu, cơ cấu đào tạo ra sao? Kinh nghiệm của New Zealand đáng chú ý ở chỗ họ xác định nhu cầu đào tạo và nhu cầu lao động trong mối quan hệ kinh tế ­ lao động ­ đào tạo. Nguyễn Thị Hằng (2013) Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề đáp ứng nhu cầu xã hội: Quan niệm và giải pháp thực hiện [30].

Các tác giả đã phân tích nhu cầu đào tạo nghề để phục vụ phát triển KT­XH của đất nước; làm rõ hạn chế, khuyết điểm trong đào tạo nghề ở nước ta hiện nay. Theo tác giả, đào tạo nghề chưa gắn với chiến lược phát triển KT­XH, sự phân bố các trường cao đẳng nghề không hợp lý, nội dung chương trình, phương pháp dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; quản lý nhà nước về đào tạo nghề hiệu quả chưa cao. * Hai là, nghiên cứu về phối hợp giữa nhà trường và xã hội, phối hợp các lực lượng xã hội trong đào tạo nghề Một số luận án bàn về sự phối hợp giữa nhà trườ ng và cộng đồ ng xã hội trong đào tạo nghề với những cách tiếp cận từ những phương diện khác nhau, như: Đặng Văn Thành (2002), Phương pháp đào tạo 19 nghề gắn với thị trường lao động ở Việt Nam [108]; Phan Chính Thức (2003), Những giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH­HĐH” [119]; Trần Khắc Hoàn (2006), Kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [37]; Nguyễn Văn Tuân (2013), Phối hợp dạy học thực hành nghề giữa các trườ ng dạy nghề với các cơ sở sử dụng lao động [125].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ