Chương I, Điều 7) - Cơ quan báo chí : Cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của các cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 14 của Luật này, thực hiện một hoặc một số loại hình báo chí, có một hoặc một số sản phẩm báo chí theo quy định của Luật này. * Nhân lực báo chí Nguồn nhân lực báo chí là tập hợp đội ngũ lãnh đ ạo, nhà báo, các bộ phận phục vụ tham gia vào quy trình sản xuấ t sản phẩ m báo chí , đồ ng thời có kỷ luật chặt chẽ để hoạt động xuất bản báo đảm bảo đúng mục đích , mục tiêu, phƣơng hƣớng phát triển của cơ quan chủ quản và Nhà nƣớc đề ra. - Lãnh đạo cơ quan báo : trong mô ̣t cơ quan báo chí , ban lañ h đa ̣o (Bô ̣ biên tâ ̣p, ban biên tâ ̣p, ban giám đốc) bao gồ m các chƣ́c danh nhƣ : Chủ bút, Tổ ng biên tâ ̣p , các Phó tổng Biên tập. Mỗi mô ̣t chƣ́c danh có chƣ́c năng , 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiê ̣m vu ̣ khác nhau trong tổ chƣ́c, quản lý, điề u hành các hoa ̣t đô ̣ng đố i nô ̣i , đố i ngoa ̣i và tổ chƣ́c sản xuấ t các sản phẩ m báo chí.
- Phóng viên, phóng viên ảnh là ngƣời làm việc cho Đài phát thanh, Đài truyền hình, Hãng thông tấn, cơ quan báo chí. với vai trò, nhiệm vụ chính là viết tin, bài và ký tên cho bài báo bằng chính tên ngƣời viết hay bằng bút danh. Đôi khi họ còn là những nhà quay phim, chụp hình. Đây là bô ̣ phâ ̣n tác chiế n trƣ̣c tiế p ta ̣i đầ u nguồ n tin tƣ́c để có đƣơ ̣c nhƣ̃ng tác phẩm báo chí nóng hổi tin ́ h thời sƣ̣.
Phóng viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan báo chí , thƣ̣c hiê ̣n viế t , chụp ảnh , quay phim các loa ̣i hiǹ h báo chí. Phóng viên có các cấp chức danh nhƣ : phóng viên, phóng viên chiń h , phóng viên cao cấ p. Phóng viên có nhi ệm vụ xây dƣ̣ng đề cƣơng , thƣ̣c hiê ̣n viế t tin , bài theo phân công và hƣớng dẫn của lãnh đ ạo cơ quan báo chí ; viế t, chụp ảnh và quay phim các thể loại tin , bài và chịu trách nhiệm cá nhân về tác phẩ m báo chí của min ̀ h; tổ chƣ́c làm viê ̣c với thông tin viên , cô ̣ng tác viên đă ̣t viế t tin, bài theo đề cƣơng đã đƣợc duyệt. - Biên tâ ̣p viên báo chí là viên chƣ́c chuyên môn nghiê ̣p vu ̣ ta ̣i các cơ quan thông tấ n , báo chí , đài phát thanh , truyề n hình, báo mạng điện tử , làm nhiê ̣m vu ̣biên tâ ̣p nâng cao chấ t lƣơ ̣ng , đảm bảo tính tƣ tƣởng , nghê ̣thuâ ̣t, khoa ho ̣c các tác phẩ m , sản phẩm báo chí.
Biên tâ ̣p viên ta ̣i các cơ quan báo chí thực hiện các nhiệm vụ nhƣ: khai thác, tổ chƣ́c các nguồ n tƣ liê ̣u , tài liệu, tin, bài. theo kế hoa ̣ch của tòa soa ̣n đề ra ; nhâ ̣n xét , biên tâ ̣p nhằ m nâng cao chấ t lƣơ ̣ng tƣ tƣởng , nghê ̣ thuâ ̣t, khoa ho ̣c; chịu trách nhiệm về nội dung bản thảo; Chọn, viế t tin , bài, giới thiê ̣u chuyên mu ̣c do mình phu ̣ trách ; Thuyế t minh về chủ đề tƣ tƣởng , chỉ dẫn các yêu cầu trình bày kỹ thuật , mỹ thuật ; Theo dõi quá trình dàn dƣ̣ng, sản xuất; Chuẩ n bi ̣nội dung tuyên truyề n, quảng cáo, tâ ̣p hơ ̣p, phân tić h ý kiế n , dƣ luâ ̣n của công chúng về nô ̣i dung, hình thức tác phẩm, sản phẩm do mình biên tập; Tổ chƣ́c đô ̣i ngũ cô ̣ng tác viên, tạo điều kiê ̣n để tác giả hoàn thành bản thảo. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những khái niệm trên, tác giả đúc kết ra khái niệm về Nhân lực Báo chí ở Việt Nam là “Tất cả các tiềm năng của con người trong một cơ quan (tổ chức) báo chí (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo), tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức dưới pháp luật của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Đặc điểm nhân lực của cơ quan báo chí Nhân lực ngành báo chí có mức tăng trung bình hằ ng năm kho ảng 6,5% (năm 2009 chỉ có 31.000 ngƣời làm việc trong lĩnh vực báo chí, đến nay con số này đã lên khoảng 35.000 ngƣời, trong đó có hơn 17.200 nhà báo đang công tác tại các tổ chức báo chí đƣợc cấp thẻ hành nghề).
Đội ngũ nhân lực ngành báo vừa mang tính phổ biến, lại vừa mang tính đặc thù riêng của ngành. Điều đó thể hiện ở những luận điểm sau: - Tính phổ biến của đội ngũ nhân lực ngành báo với đầy đủ phẩm chất đạo đức và tính truyền thống Việt Nam: bản chất nhân văn, nhân ái trong quan hệ ngƣời với ngƣời, với cộng đồng; có đầu óc khoa học và tƣ duy lý biết sử dụng các quy luật để xây dựng cuộc sống; có nhân cách công dân, ý thức rõ về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; con ngƣời lao động có tay nghề cao, sáng tạo ra các giá trị để làm giàu cho mình và cho xã hội. - Tính đặc thù của đội ngũ nhân lực ngành báo đƣợc thể hiện bằng các đặc điểm sau đây: là đội ngũ lao động tạo ra sản phẩm có tính đặc thù thông qua đào tạo về kiến thức, kỹ năng chuyên môn và kỹ năng sống để trở thành nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Là đội ngũ lao động đã qua đào tạo và có trình độ học vấn cao. Về trình độ chuyên môn, phần lớn số ngƣời làm việc trong lĩnh vực báo chí đều có trình độ cao đẳng, đại học trở lên; số ngƣời làm báo có trình độ dƣới đại học đã giảm trung bình khoảng 1%/ năm.
Năm 2009, tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học là 85% và trên đại học là 4%. Đến năm 2017, tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học là khoảng 93% và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên đại học là 5,1%. Hoạt động của đội ngũ nhân lực ngành báo mang tính xã hội hóa, phổ cập. Hoạt động và sản phẩm của ngành Báo mang tính định hƣớng và an ninh, an toàn thông tin.
Các yêu cầu với nhân lực trong ngành báo chí: - Có phẩm chất chính trị (nhanh nha ̣y nắ m bắ t , xƣ̉ lý thông tin đảm bảo phục vụ khuynh hƣớng, lơ ̣i ić h chiń h tri ̣của Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân, tòa soạn). Hiể u đƣơ ̣c đƣờng lố i, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc có liên quan đế n nhiê ̣m vu ̣ đƣơ ̣c phân công; Nắm đƣợc nội dung cơ bản của Luật Báo chí , các quy trình quy phạm nghiệ p vu ,̣ các chế độ , chính sách đối với báo chí. - Có năng lực chuyên môn báo chí chuyên nghiệp (có khả năng tác nghiê ̣p báo chí chuyên nghiê ̣p ở các công viê ̣c khác nhau nhƣ : viế t, biên tâ ̣p, tổ chƣ́c bài vở , thiế t kế triǹ h bà y ấ n phẩ m , quản lý tài chính và kinh tế báo chí.); Biế t chu ̣p ảnh, sƣ̉ du ̣ng thành tha ̣o máy vi tiń h; Cần biế t ngoa ̣i ngƣ̃ - Có trình độ hiểu biết xã hội sâu rộng (hiể u rô ̣ng, sâu các vấ n đề của đời số ng xã hô ̣i, nhấ t là nhƣ̃ng vấ n đề thời cuô ̣c, tƣ̀ đó vâ ̣n du ̣ng tổ chƣ́c xuấ t bản các sản phẩm báo chí đúng , trúng, hấ p dẫn ); nắ m đƣơ ̣c hoa ̣t đô ̣ng của ngành , đơn vi,̣ điạ phƣơng, cơ sở có liên quan đế n nhiê ̣m vu ̣ đƣơ ̣c phân công. Nội dung về quản lý nhân lực trong các cơ quan báo chí Không thể nói tới phát triển tổ chức nếu nhƣ công tác hành chính bao gồm quản lý nhân lực không hoạt động hiệu quả.
Vì vậy, dù các mục đích và mục tiêu, phƣơng hƣớng phát triển tổ chức không hoàn toàn giống nhau, phạm vi, hình thức và biện pháp cũng khác nhau giữa cơ quan, đoàn thể, tổ chức nhƣng có thể nhận thấy rằng, công tác quản lý nhân lực là vấn đề cốt lõi sống còn cho sự phát triển tổ chức. Chƣơng trình tổng thể cải cách hành chính nhà nƣớc giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định mục tiêu cải cách hành chính với một trong những trọng tâm là xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC). Ở các 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ quan báo chí, công tác quản lý nhân lực đƣợc đặt ra nhƣ một đòi hỏi khách quan của thực tế. Hiệu lực và hiệu quả quản lý xét cho cùng đƣợc quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu suất công tác của đội ngũ nhân lực.
Khái niệm và đặc điểm công tác quản lý nhân lực tại cơ quan báo chí 1. Khái niệm và đặc điểm công tác quản lý nhân lực Trên thực tế có rất nhiều các tiếp cận vấn đề quản lý nhân lực từ các góc độ khác nhau, từ đó đƣa ra khái niệm khác nhau về quản lý nhân lực Theo A. Price (2004), quản lý nhân lực là nhằm mục đích tuyển chọn đƣợc những ngƣời có năng lực, nhanh nhạy và cống hiến trong công việc, quản lý hoạt động và khen thƣởng kết quả hoạt động cũng nhƣ phát triển năng lực của họ. Theo Bách khoa toàn thƣ mở, quản lý nhân lực đƣợc hiểu mỗi hình thái kinh tế xã hội đều gắn liền với một phƣơng thức sản xuất nhất định, xu hƣớng của quản trị ngày càng phức tạp cùng với sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế xã hội.
Trên thị trƣờng ngày nay, các tổ chức nhà nƣớc và tƣ nhân đang đứng trƣớc thách thức phải tăng cƣờng tối đa hiệu quả cung cấp các sản phẩm dịch vụ của mình. Điều này đòi hỏi phải có sự quan tâm tới chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ, tới các phƣơng thức m và bán hàng tốt cũng nhƣ các quy trình nội bộ hiệu quả. Các tổ chức thƣờng cố gắng để tạo sự cân bằng giữa tính chất nhất quán và sự sáng tạo.