phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương, 6 tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÁC TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nƣớc về tôn giáo 1.
Những khái niệm * Quản lý: Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng những phương pháp và công cụ khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường. Từ định nghĩa này, có thể thấy rằng: - Quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, đó là quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý. - Quản lý là tác động có ý thức, - Quản lý là tác động bằng quyền lực, - Quản lý là tác động theo quy trình, - Quản lý là phối hợp các nguồn lực, - Quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung, - Quản lý tồn tại trong một môi trường luôn biến đổi. Như vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ, phương tiện quản lý, cách thức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình) và môi trường quản lý.
Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý. - Các đặc trưng của quản lý: Bởi vì quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, lại là loại hình lao động đặc biệt nên quản lý có những đặc trưng nổi bật để phân biệt với các khoa học và nghệ thuật khác như: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến; Hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người; Quản lý là tác động có ý thức; Quản lý là tác động bằng quyền lực; Quản lý là tác động theo quy trình; Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực; Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung; Quản lý là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật; Mối quan hệ giữa quản lý và tự quản. - Vai trò của quản lý Quản lý là một hoạt động hay là một hình thức lao động đặc biệt. Nó lấy các hoạt động cụ thể làm đối tượng để tác động vào nhằm định hướng, thiết kế, duy trì, phát triển, điều chỉnh và phối hợp các hoạt động đó thành một hợp lực để hướng tới hoàn thành mục tiêu của tổ chức.
Chính vì vậy, xét về mặt tổng thể hay xét như một quy trình, quản lý có những vai trò sau: định hướng, thiết kế, duy trì và thúc đẩy, điều chỉnh, phối hợp. * Nhà nước: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội với mục đích bảo về địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội. - Đặc điểm của nhà nước: Các nhà nước trong lịch sử có sự khác nhau về bản chất, nhưng đều có đặc điểm chung. Những đặc điểm của nhà nước cho phép phân biệt nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội do giai cấp thống trị tổ chức ra.
Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt tách ra khỏi xã hội (không hòa nhập vào dân cư như xã hội nguyên thủy), đó là quyền lực nhà nước. Để thực hiện quyền lực này và quản lý xã hội, nhà nước tạo ra lớp người chuyên làm nhiệm vụ quản lý, họ được tổ chức thành các cơ quan và hình thành nên bộ máy 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cưỡng chế để duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, buộc các giai cấp và tầng lớp dân cư trong xã hội phải phục tùng ý chí giai cấp thống trị. Nhà nước quản lý dân cư theo lãnh thổ, phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính. Việc phân chia này không phụ thuộc huyết thống, chính kiến, nghề nghiệp, giới tính.
Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội khác. Trong thiết chế chính trị xã hội thì chỉ nhà nước mới xác lập lãnh thổ của mình và chia lãnh thổ đó thành các bộ phận cấu thành nhỏ hơn: thành phố, tỉnh, huyện, xã. Nhà nước có chủ quyền quốc gia thể hiện ở quyền tự quyết của Nhà nước về tất cả các vấn đề của chính sách đối nội và chính sách đối ngoai, không phụ thuộc quyền lực bên ngoài. Trong thiết chế chính trị - xã hội, nhà nước là tổ chức duy nhất có chủ quyền quốc gia.
Đây là thuộc tính không thể tách rời của nhà nước. Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện quản lý bắt buộc với mọi công dân. Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng gắn bó hữu cơ với nhau không thể tách rời. Nhà nước có bộ máy cưỡng chế để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và thực hiện sự quản lý bắt buộc với mọi thành viên trong xã hội.
Nhà nước quy định các loại thuế và thực hiện thu thuế dưới hình thức bắt buộc. Việc thu thuế nhằm tạo ra nguồn tài chính đảm bảo bộ máy nhà nước hoạt động, đáp ứng nhu cầu xã hội, đảm bảo việc thực hiện vai trò xã hội của nhà nước. * Tôn giáo: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời cũng là một hiện tượng xã hội được hình thành trong những điều kiện tồn tại vật chất của xã hội ở những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Tôn giáo ra đời cách đây khoảng 95000 - 35000 năm vào thời đại đá cũ với người Néanderthal, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình thành con người hiện đại, khi con người biết tổ chức thành xã hội thị tộc- bộ lạc; hay có thể nói khi con người xã hội đã hình thành.
Vậy tôn giáo là gì? Có rất nhiều nhà khoa học, nhà tư tưởng tập trung tâm huyết để nghiên cứu và cố gắng định nghĩa nó. Các nhà triết học duy tâm, các nhà thần học thừa nhận sự tồn tại của thực thể siêu nhiên, họ cho rằng tôn giáo là cái có sẵn, đó là một đấng siêu nhiên, thần thánh nào đó điều khiển xã hội, từ đó nảy sinh niềm tin tôn giáo. Tylor đã viết: “Có lẽ nên đặt niềm tin vào những thực thể tinh thần (hay siêu nhiên) như một định nghĩa tối thiểu về tôn giáo” [73,2]. Quan điểm trên của Tylor có thể nói là phát ngôn của các nhà duy tâm khẳng định sự tồn tại không phụ thuộc vào con người của đáng thần thánh, siêu nhiên và tôn giáo chính là biểu hiện niềm tin của con người đối với đấng siêu nhiên đó.
Đối lập với các nhà duy tâm, các nhà duy vật biện chứng mà tiêu biểu là Mác- Ăngghen cho rằng tôn giáo không thể do bất cứ một đấng siêu nhiên nào tạo nên. Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử, của con người, do con người sáng tạo ra rồi lại bị nó chi phối, “con người sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người”[73,1]. Phát triển quan điểm của Mác, Ăngghen đã chỉ rõ tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh thần thánh hóa những lực lượng trần thế áp bức con người trong sinh hoạt hàng ngày. Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, Ăngghen viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức siêu trần thế”[73,2].
Sau Mác - Ăngghen, nhiều nhà khoa học khác cũng đã nêu lên những định nghĩa về tôn giáo xuất phát từ quan điểm của mình. Từ góc độ thế giới quan, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội; từ góc độ tâm lý học, tôn giáo là một dạng biểu hiện đặc thù của tình cảm thành tín ngưỡng; từ góc độ xã hội 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học và chính trị học, tôn giáo là một thể chế trong cơ cấu xã hội; từ góc độ nhận thức luận, tôn giáo là hệ thống nhận thức dưới hình thức niềm tin không cần kiểm chứng; từ góc độ thể chế, tôn giáo là những cộng đồng người có chung một tín ngưỡng nhất định. Tất cả các định nghĩa đều tiến tới một quan niệm phổ quát nhất về tôn giáo: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thể hiện trong những quan niệm của con người (hay nhóm người) dưới dạng niềm tin vào một sức mạnh siêu nhiên tự nhiên hay là những nhân vật được thần thánh hóa, thể hiện bằng những nghi thức, sinh hoạt nhất định, giống nhau của từng thành viên trong nhóm đó. Từ góc độ khoa học quản lý, tôn giáo là một hoạt động được tổ chức chặt chẽ, nó là tổng hợp những yếu tố liên quan đến con đường thỏa mãn những nhu cầu tín ngưỡng của con người.
Để nhận thức tôn giáo đúng với những hoạt động, những sức mạnh của niềm tin, của thể chế bên trong các tôn giáo cụ thể, cần nhìn nhận tôn giáo bao gồm các yếu tố: giáo lý, giáo luật, giáo lễ và giáo hội. * “Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận. Tổ chức tôn giáo cơ sở là đơn vị cơ sở của tổ chức tôn giáo bao gồm ban hộ tự hoặc ban quản trị chùa của đạo Phật, giáo xứ của đạo Công giáo, chi hội của đạo Tin lành, họ đạo của đạo Cao Đài, ban trị sự xã, phường, thị trấn của Phật giáo Hoà hảo và đơn vị cơ sở của tổ chức tôn giáo khác. - Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận.