Chương 1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Hoạt động khoa học và công nghệ - đối tượng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 1. Khoa học Lúc đầu, thuật ngữ "khoa học" được sử dụng để chỉ một phương hướng nghiên cứu triết lý tự nhiên (natural philosophy) trong triết học.
Đến đầu thế kỷ XIX, phương hướng nghiên cứu triết lý tự nhiên mới thực sự tách khỏi triết học để hình thành khái niệm tương tự khái niệm "khoa học" ngày nay. Từ đó đến nay có rất nhiều khái niệm về "khoa học" đã xuất hiện. - Theo Từ điển Larousse của Pháp (năm 2002), "khoa học" là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định. - Theo Từ điển Triết học của Liên Xô (bản tiếng Việt, năm 1975), "khoa học" là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy, bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này.
- Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (năm 1986), "khoa học" là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan; "khoa học" là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các kiến thức mới, và cả những kết quả của các hoạt động đó. - Theo Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners, (năm 2006), "khoa học" là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vật lý và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống. - Theo Từ điển Cobuild Learner’s Dictionary (năm 2001), "khoa học" là một hoạt động nghiên cứu về giới tự nhiên và hành vi của giới tự nhiên; "khoa học" là những tri thức đạt được từ công việc nghiên cứu. - Theo Từ điển Hutchinson Dictionary of Ideas (năm 1994), "khoa học" là một lĩnh vực nghiên cứu có hệ thống nhằm sản xuất ra các tri thức.
- Theo Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (năm 1994), "khoa học" là một thiết chế xã hội. Như vậy, khái niệm "khoa học" có 4 cách tiếp cận: - Khoa học là một hệ thống tri thức. - Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức. - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội.
- Khoa học là một thiết chế xã hội. Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000) của nước ta định nghĩa: "Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy" [23]. Công nghệ Ngay khi mới xuất hiện, khái niệm "công nghệ" có nghĩa là trật tự các giải pháp kỹ thuật trong một dây chuyền sản xuất. Ngày nay, công nghệ được hiểu là phương tiện và hệ thống phương tiện dùng để thực hiện quá trình sản xuất, nhằm biến đổi đầu vào và cho đầu ra là các sản phẩm và dịch vụ mong muốn.
Nói đến kỹ thuật là nhấn mạnh đến yếu tố phần cứng (thiết bị, phương tiện, máy móc). Nói đến công nghệ là bao gồm cả phần cứng và phần mềm; trong đó, muốn nhấn mạnh đến yếu tố phần mềm (bí quyết, kinh nghiệm, quy 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình, phương pháp…). Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm, dịch vụ mong muốn. Công nghệ bao gồm 4 yếu tố tác động qua lại lẫn nhau và cùng thực hiện quá trình sản xuất như sau: + Công cụ hay còn gọi là phần cứng (kỹ thuật), gồm: trang thiết bị, khí cụ, nhà xưởng.
+ Con người: gồm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề, kinh nghiệm, thói quen… + Thông tin (các bí quyết, quy trình, quy tắc), phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế… + Tổ chức, quản lý: thể hiện trong bố trí sắp xếp, điều động, quản lý các yếu tố trên. Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000) của nước ta định nghĩa: "Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm" [23]. Hoạt động khoa học và công nghệ Theo UNESCO, hoạt động KH&CN là tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ tới việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH&CN trong thực tiễn sản xuất và đời sống. Chính trong hoạt động KH&CN mà các kiến thức KH&CN được sản xuất ra, được thu thập, truyền bá, được sửa đổi, thích nghi cho phù hợp với nhu cầu và cho việc sử dụng.
Nó bao gồm một diện rộng các hoạt động từ nghiên cứu cho đến dịch vụ KH&CN trong sản xuất, đào tạo kỹ năng vận hành công nghệ phục vụ cho việc phát triển công nghệ. Theo Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000) thì hoạt động KH&CN gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN. - Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng.
- Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm: triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm. + Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới. + Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả, triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.
- Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN vào thực tiễn. Hoạt động KH&CN với nội dung như trên chính là đối tượng của QLNN về KH&CN. Hoạt động KH&CN có các đặc trưng: tính sáng tạo, tính rủi ro; tính kế thừa; tính tích lũy. - Tính sáng tạo: Nghiên cứu khoa học là một loại lao động trí óc mang tính sáng tạo.
Đây là điểm cơ bản nhất để phân biệt nó với lao động sản xuất bình thường, tức là lao động sản xuất mang tính lặp đi, lặp lại. - Tính rủi ro: Vì hoạt động KH&CN mang tính sáng tạo, tìm kiếm cái chưa biết nên cũng có thể thành công, mà cũng có thể thất bại. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo UNESCO, tỷ suất giữa thành công và thất bại đối với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng nghiên cứu triển khai và nghiên cứu cải tiến kỹ thuật như sau: Bảng 1.1: Tỷ suất giữa thành công và thất bại đối với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng nghiên cứu triển khai và nghiên cứu cải tiến kỹ thuật Xác suất Xác suất không thành công thành công + Nghiên cứu cấu trúc của tâm lý 0,20 0,80 + Nghiên cứu cơ bản 0,25 0,75 + Nghiên cứu ứng dụng 0,40 0,60 + Nghiên cứu triển khai thực nghiệm 0,60 0,40 + Cải tiến kỹ thuật nhỏ 0,90 0,10 Nguồn: [53]. - Tính kế thừa: Hoạt động nghiên cứu khoa học hiện đại đều không tách khỏi sự kế thừa thành quả lao động KH&CN của người đi trước, nó đều được tiến hành trên cơ sở sáng tạo của người khác hoặc người đi trước.
Đồng thời, những tri thức mới mà họ sáng tạo ra cũng tất nhiên sẽ được người khác hoặc người đời sau kế thừa và phát triển. - Tính tích lũy: Tích lũy của lao động KH&CN thể hiện ở chỗ: sự triển khai của bất kỳ hoạt động KH&CN nào cũng đều phải qua thời gian dài "thai nghén", thu thập và tích lũy lượng lớn thông tin có liên quan đến phương pháp và hướng tư duy của công việc nghiên cứu ấy; đồng thời cần tiến hành phân tích, đánh giá, chỉnh lý, gia công một cách toàn diện mới có thể cung cấp những điều kiện khả thi và cơ sở cho sự xuất hiện nghiên cứu mới. Trong mỗi khâu, mỗi bước nghiên cứu, tính tích lũy này cũng được biểu hiện đầy đủ từ đầu đến cuối. Các đặc điểm trên của hoạt động KH&CN có liên hệ với nhau, không thể chia cắt.
Chỉ có nhận thức đầy đủ các tính đặc thù này thì QLNN về KH&CN mới đem lại hiệu quả cao. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 1. Khái niệm quản lý nhà nước Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.
Tuy vậy, các quan niệm về quản lý đều thể hiện ba yếu tố: ai quản lý; quản lý cái gì; quản lý nhằm đạt được cái gì? Tương ứng với ba yếu tố đó là: chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý. Như vậy, khái niệm chung nhất về quản lý cần thể hiện được mối liên hệ của ba yếu tố này. Với cách tiếp cận này, quản lý được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu. Điểm đặc trưng để phân biệt quản lý với sự tác động khác, hoạt động khác của chủ thể là tính chất của mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng mà chủ thể tác động tới.
Ở đây, chủ thể và đối tượng có mối quan hệ đặc biệt, đó là quan hệ có tính chất phụ thuộc, lệ thuộc của đối tượng đối với chủ thể, là quan hệ có tính chất chi phối của chủ thể đối với đối tượng. Có nhiều dạng quản lý khác nhau. Nếu phân theo đối tượng quản lý thì quản lý gồm có các dạng sau: - Quản lý giới vô sinh (hay quản lý kỹ thuật): đối tượng quản lý là các vật vô tri, vô giác (như nhà xưởng, thiết bị, máy móc. - Quản lý giới sinh vật: đối tượng quản lý là các vật hữu sinh (như cây trồng, vật nuôi.