Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 1. Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch 1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước về hộ tịch 1. Khái niệm hộ tịch Trong khoa học pháp lý một số nước trên thế giới, có thể nhận thấy khái niệm về hộ tịch đã được đề cập, cụ thể như theo tiếng Anh, thuật ngữ “Civil registration” được hiểu là việc đăng ký đúng thời hạn các sự kiện sinh, tử, kết hôn với chính quyền trong thời hạn quy định.
Hiện nay, trong Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp không đưa ra khái niệm riêng về hộ tịch mà chỉ đưa ra khái niệm “Chứng thư hộ tịch”; nhưng trong tiếng Pháp thì từ “register d etat civil” cũng được hiểu là việc đăng ký dân sự của cá nhân. Như vậy, cả hai khái niệm nêu trên đều có thể hiểu nghĩa đó là việc “đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân”. Các nước có hệ thống pháp luật theo truyền thống là luật thành văn (còn gọi Luận văn thạc sĩ Luật Học là hệ thống luật lục địa) với đại diện tiêu biểu nhất là Pháp thì khái niệm này thường gắn liền với khái niệm “Thân trạng” và được hiểu là “căn cước, tình trạng dân sự của một cá nhân” (tiếng Pháp là état des personnes). Còn hiện nay, theo các tài liệu đã được Liên hiệp quốc công nhận và chính thức sử dụng thường xuyên thì khái niệm “Civil registration” có nghĩa là: “Đăng ký hộ tịch là việc ghi nhớ liên tục đặc điểm về sự tồn tại và tình trạng dân sự của mỗi cá nhân liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh, luật hoặc điều lệ phù hợp với yêu cầu của pháp luật mỗi quốc gia”.
Như vậy, có thể thấy rằng về mặt ngôn ngữ học, từ Hộ tịch đang được sử dụng trong pháp luật Việt Nam hiện hành đều có sự tương đồng về ngữ nghĩa với các khái niệm của pháp luật về hộ tịch của nước ngoài. Xét từ góc độ ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính. Xét về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng [41, tr. Theo đó, từ “hộ” khi sử dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân cư” 7 hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau”.
Tương tự từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Gốc từ là vậy, nhưng nội hàm khái niệm này lại được giải nghĩa có thể hơi khác nhau: “Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” [1, tr.“Hộ tịch: Sổ sách ghi chép, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường” [27, tr.“Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [26, tr.“Hộ tịch: Sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo đơn vị hộ” [30, tr.“Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [52, tr.“Hộ tịch là những sự kiện cơ bản về đời sống của mỗi người được đăng ký vào sổ hộ tịch để làm căn cứ xác định các quyền và nghĩa vụ dân sự, quyền và nghĩa vụ công dân” [42, tr. Mỗi cách giải thích đứng từ góc nhìn khác nhau, thể hiện sự vận động nhận thức về khái niệm ở các thời kỳ khác nhau, nhưng điểm chung của chúng là đều liên quan đến sự ghi Luận văn thạc sĩ Luật Học nhận cái thuộc về nhân thân con người. Nhưng ngày nay, nhận thức chung của xã hội về hộ tịch thì hộ tịch được hiểu là những sự kiện sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, tử… xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.
Quan niệm hộ tịch này đã được thể hiện tại Điều 2 Luật Hộ tịch 2014. Các sự kiện hộ tịch có thể phân chia thành 02 nhóm có tính chất tương đối như sau: - Nhóm thứ nhất gồm: Các sự kiện sinh (ngày, tháng, năm sinh); quan hệ gia đình (cha, mẹ, con); sự kiện tử (ngày, tháng, năm chết, nơi chết, nguyên nhân chết). Đây là các sự kiện hộ tịch không bao giờ thay đổi. - Nhóm thứ hai gồm: họ tên, dân tộc, giới tính, quốc tịch.
Đây là nhóm các sự kiện hộ tịch có thể thay đổi và việc thay đổi sẽ được tiến hành theo trình tự, thủ tục được quy định rất chặt chẽ. Tóm lại, Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định là căn cứ pháp lý để xác nhận các sự kiện hộ tịch của cá nhân đó 8 và mỗi sự kiện hộ tịch đều được cơ quan đăng ký hộ tịch ghi nhận bằng giấy tờ hộ tịch. Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định giá trị pháp lý của giấy khai sinh như sau: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh của người đó.
Khái niệm quản lý nhà nước về hộ tịch Quản lý là hoạt động mang tính chất đặc thù trong đời sống xã hội, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý. Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con người. Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp riêng lẻ của từng cá nhân thành hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã được định trước. Luận văn thạc sĩ Luật Học Từ những quan niệm nêu trên, có thể xác định quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch của nhà nước gắn với các sự kiện: sinh, tử, kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch.
Thông qua việc đăng ký nhà nước quản lý để nắm được tình hình biến động dân cư, giúp nhà nước có cơ sở để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng cũng như hoạch định các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Ngày 08 tháng 5 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch. Ngày 16 tháng 01 năm 1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP, kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế. Theo quy định tại hai Bản Điều lệ này, thì Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) được giao nhiệm vụ thống nhất chỉ đạo, tổ chức quản lý hộ tịch; việc đăng ký hộ tịch do Ủy ban hành chính xã, thị trấn, thị xã, khu phố phụ trách.
Ngày 20 tháng 11 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 219/HĐBT về việc chuyển giao công tác đăng ký hộ tịch ở 9 Trung ương từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp. Từ thời điểm này, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch trên phạm vi cả nước. Quản lý nhà nước về hộ tịch là một hình thức hoạt động của nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền (trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền) thực hiện trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Quản lý nhà nước về hộ tịch khác với khái niệm là quản lý hộ khẩu.
Hộ khẩu là “người ở trong một hộ” [52, tr. Đăng ký hộ khẩu: “Biện pháp quản lý hành chính của nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Việc đăng ký và quản lý hộ khẩu do Bộ Công an phụ trách” [36, tr. Theo quy định của Luật Cư trú được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp Luận văn thạc sĩ Luật Học thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2007 quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú” [36, tr.
Đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của nhà nước để xác định việc cư trú của công dân. Vì vậy, cần phân biệt hai khái niệm giữa quản lý hộ khẩu và quản lý hộ tịch ở những điểm cơ bản sau: Một là, quản lý hộ khẩu là hoạt động chuyên môn của ngành Công an còn quản lý hộ tịch là hoạt động chuyên môn của ngành Tư pháp. Hai là, đối tượng quản lý của hộ tịch rộng hơn đối tượng quản lý của hộ khẩu. Ba là, tính chất của quản lý hộ khẩu có tính động còn quản lý hộ tịch có tính bền vững hơn.
Bốn là, về cách thức quản lý thì theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật Hộ tịch, quy định: “Sổ hộ tịch là sổ giấy được lập và lưu giữ tại cơ quan đăng ký hộ tịch để xác nhận hoặc ghi các sự kiện hộ tịch” [38]. 10 Năm là, mục đích quản lý của quản lý hộ tịch và quản lý hộ khẩu cũng khác nhau: quản lý hộ tịch là phương tiện để kiểm tra việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân còn quản lý hộ khẩu là để nắm được việc biến động về nơi thường trú, tạm trú của công dân. Tóm lại, các vấn đề về hộ tịch và hộ khẩu có những đặc điểm khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ gắn bó mật thiết với nhau, trong đó hoạt động đăng ký hộ tịch luôn là cơ sở, căn cứ làm phát sinh hoạt động đăng ký hộ khẩu và nó cũng là cơ sở, điều kiện để xem xét đăng ký hộ khẩu.