PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Trong bối cảnh hoàn thiện thể chế kinh tế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng ở tất cả các lĩnh vực, những điều kiện tích cực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường được tạo ra ngày càng nhiều. Các yếu tố của nền kinh tế thị trường đã tác động trực tiếp, có hiệu quả đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người, ngân sách nhà nước đầu tư cho việc phát triển cơ sở hạ tầng không ngừng tăng lên, các hoạt động phúc lợi xã hội đã bắt đầu được quan tâm và đầu tư đúng mức, các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng về cả quy mô và lĩnh vực hoạt động, chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của người dân đã được cải thiện rõ rệt và nâng lên một cách đáng kể. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển kinh tế - xã hội cũng đã để lại không ít những hệ lụy, tạo ra lực cản đối với sự phát triển xã hội nói chung.
Đó là sự phát sinh, gia tăng của các hiện tượng xã hội tiêu cực và các loại tội phạm, trong đó tội tham ô tài sản. Đây là mối đáng lo ngại đối với Đảng, Nhà nước ta và là vấn đề gây nhiều bức xúc trong nhân dân. Tâm lý hưởng thụ và muốn làm giàu nhanh chóng hoặc tâm lý muốn có chức vụ, quyền hạn để làm giàu đã ăn sâu trong tâm trí một bộ phận cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn. Bên cạnh đó, sự lỏng lẻo trong quản lý kinh tế, những hạn chế, bất cập trong hệ thống văn bản pháp luật nói chung và văn bản về quản lý kinh tế nói riêng cũng là nguyên nhân làm gia tăng loại tội phạm này.
Trong những năm gần đây, tội tham ô tài sản có chiều hướng gia tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc và ở nhiều lĩnh vực, trong đó xảy ra phổ biến hơn cả ở các lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công, đầu tư xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng, quản lý đất đai, các loại tài nguyên khác và ngày càng nghiêm trọng cả về tính chất và mức độ; nhiều đối tượng phạm tội là người từng giữ chức vụ cao trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước; nhiều hành vi tham ô tài sản xảy ra trong thời gian dài mới được phát hiện, xử lý. Do tính đặc thù của tội tham ô tài sản là xâm hại nhiều khách thể cùng một lúc nên các hành vi tham ô không chỉ gây ra những thiệt hại nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng về tài sản của nhà nước mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với những người thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước. Theo thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao thì trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2019, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 2485 vụ/ 2 4635 bị cáo về tội tham ô tài sản1. Trong khi đó, cũng trong thời gian này Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử 4203 vụ/ 8156 bị cáo thuộc nhóm tội tham nhũng2.
Như vậy, tội tham ô tài sản được đưa ra xét xử chiếm 59,1% về số vụ và 56,8% số bị cáo của nhóm tội phạm tham nhũng được đưa ra xét xử sơ thẩm. Phòng ngừa tội tham ô tài sản trong thời gian qua đã được quan tâm, chú trọng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên kết quả đạt được chưa cao, những hạn chế của hoạt động phòng ngừa chưa được quan tâm khắc phục kịp thời, một số nội dung, biện pháp phòng ngừa không còn phù hợp với yêu cầu thực tế nhưng chưa được đổi mới cho thích ứng, các vụ án tham ô tài sản với hậu quả đặc biệt nghiêm trọng vẫn xảy ra ở các bộ, ngành, các địa phương trên cả nước, tạo ra những khó khăn, thách thức không nhỏ đối với các cơ quan thực hiện chức năng phòng ngừa loại tội phạm này. Do vậy, việc phòng ngừa tội tham ô tài sản nhằm từng bước đẩy lùi loại tội phạm này là một yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, việc nghiên cứu tình hình tội tham ô tài sản cũng như xác định những nguyên nhân của tội phạm này để từ đó tìm ra những biện pháp phòng ngừa thiết thực, hiệu quả lại chưa được quan tâm một cách thỏa đáng, nên thực tế cũng làm hạn chế hiệu quả của việc phòng ngừa loại tội phạm này. Xuất phát từ đòi hỏi cả về lý luận và thực tiễn, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: "Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" làm đề tài luận án tiến sĩ là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Việc nghiên cứu đề tài "Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" là nhằm đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới. Để đạt được mục đích này, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, đánh giá tình hình của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010- 2019.
Thứ hai, phân tích, giải thích nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019. 1 Số liệu được tổng hợp từ thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao trong khoảng thời gian 10 năm từ 2010-2019. 2 Số liệu được tổng hợp từ thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao trong khoảng thời gian 10 năm từ 2010-2019. 3 Thứ ba, dự báo tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới; đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài "Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" hướng tới các đối tượng nghiên cứu sau: Tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam; Nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam; Các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam; Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu từ góc độ tội phạm học tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn 10 năm từ 2010-2019. Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 4. Cơ sở lý thuyết Cơ sở lý thuyết của luận án là lý luận về tội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Cụ thể là lý luận về tình hình tội tham ô tài sản, lý luận về nguyên nhân làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản, lý luận về dự báo tình hình tội tham ô tài sản, lý luận về các biện pháp phòng ngừa tội tham ô tài sản.
Câu hỏi nghiên cứu Để đưa ra được những biện pháp hữu hiệu phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới, luận án đứng trước một số câu hỏi cần thiết phải trả lời sau: 1. Thực trạng về mức độ, thực trạng về tính chất của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 như thế nào? 2. Diễn biến của tội tham ô ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 như thế nào? 3. Những yếu tố nào làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019; cơ chế tác động của những yếu tố đó? 4.
Các biện pháp cần được áp dụng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới? 4. Giả thuyết nghiên cứu Với cách hiểu giả thuyết nghiên cứu là luận điểm cần chứng minh, tác giả luận án xác định giả thuyết nghiên cứu của luận án như sau: Trong những năm gần đây tham ô tài sản là loại tội phạm ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng về hậu quả; xảy ra ở nhiều ngành, lĩnh vực đặc biệt là các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước; số vụ án đồng phạm, số tiền chiếm đoạt đặc biệt lớn ngày càng 4 phổ biến; thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi; số vụ án có hành vi phạm tội diễn ra trong thời gian dài ngày càng nhiều, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý kinh tế, xã hội của Nhà nước. Trước thực trạng đó, việc tìm ra những nguyên nhân của tội tham ô tài sản và đề xuất các biện pháp hạn chế việc phát sinh tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới là hết sức cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tình hình tội tham ô tài sản ở nước ta trong giai đoạn 2010-2019, tác giả luận án xác định các nhóm yếu tố tiêu cực được coi là nguyên nhân làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong những năm vừa qua, các nguyên nhân đó là: Những hạn chế trong tổ chức, quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công, quản lý đất đai, hoạt động ngân hàng, tín dụng, hoạt động đầu tư, xây dựng; những hạn chế trong công tác cán bộ liên quan đến bổ nhiệm, sử dụng, quản lý và đánh giá cán bộ; những hạn chế trong hoạt động phát hiện, xử lý tội tham ô tài sản; những hạn chế trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật; những đặc điểm tâm lý tiêu cực của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế.
Việc xác định các nhóm nguyên nhân của tội tham ô tài sản chính là nội dung trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: Những yếu tố nào làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong những năm vừa qua. Trên cơ sở giải thích các nhóm nguyên nhân, phân tích cơ chế tác động của các nguyên nhân, tác giả đề xuất các nhóm biện pháp tương ứng nhằm làm hạn chế hoặc có thể loại trừ các yếu tố tiêu cực làm phát sinh hành vi phạm tội, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa loại tội phạm này trong thời gian tới.