phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH TẠI TỈNH VĨNH PHÚC. GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LICH TẠI VĨNH PHÚC.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 1. Một số vấn đề về du lịch 1. Khái niệm du lịch Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nƣớc phát triển mà còn ở các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới. Du lịch là một đề tài hấp dẫn và trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Hiện nay du lịch không chỉ đơn thuần là hoạt động của tầng lớp “quý tộc” mà du lịch đã trở thành xã hội hóa, nhu cầu đi du lịch của con ngƣời ngày càng cao. Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cƣ là một chỉ tiêu để đánh giá chất lƣợng cuộc sống.
Mặc dù hoạt động du lịch đã xuất hiện từ rất lâu và phát triển rất nhanh trong cuộc sống của loài ngƣời. Tuy nhiên cho đến nay, khái niệm “Du lịch” đƣợc hiểu rất khác nhau giữa các quốc gia và dƣới những góc độ cũng khác nhau. Điều này thể hiện qua nhận định của Tiến sỹ Berneker, ngƣời Thụy sỹ, một chuyên gia hàng đầu thế giới về du lịch: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [14, tr.9] Trong tiếng Anh, từ du lịch xuất phát từ “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi, tiếng Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ “Le Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi, dã ngoại,… Theo Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đích không phải để làm ăn, tức là không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”. Tại hội nghị của Liên Hiệp quốc về du lịch họp tại Roma – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đƣa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thƣ Việt Nam(1996) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): “Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật”. Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cac về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữư nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ”.
Theo Luật Du lịch của Quốc hội nuớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thì du lịch đƣợc hiểu là: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [13, tr. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, có khá nhiều khái niệm Du lịch nhƣng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau: - Du lịch là một hiện tƣợng kinh tế xã hội. - Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lƣu trú ngoài nơiủơ thƣờng xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoải mãn các nhu cầu đa dạng của họ. - Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trìn, lƣu trú tạm thờu và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ.
Các cuộc hành trình, lƣu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình. Trên cơ sở tổng hợp các quan điểm, các lý luân và thực tiễn phát triển của hoạt động du lịch thế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây, có thể đƣa ra khái niệm du lịch nhƣ sau: “ Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các họat động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất , trao đổi hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng về nhu cầu đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí, tham quan và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích về kinh tế, chính trị - xã hội thiết thực cho quốc gia và toàn xã hội”. Thị trường, khách du lịch Để phân khúc thị trƣờng của du lịch, trƣớc hết phải xác định thị trƣờng trọng điểm và dự báo tiềm năng phát triển đúng sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách du lịch định ra chiến lƣợc phát triển cũng nhƣ mục tiêu, kế hoạch phấn đấu của ngành du lịch trong từng giai đoạn cụ thể một cách khoa học và sát với thực tế; đồng thời có biện pháp giữ vững và phát triển thị trƣờng truyền thống.
Phải có các sản phẩm du lịch đặc sắc, mang đậm tính chất văn hóa dân tộc, vùng miền để thu hút ngày càng nhiều khách cũng nhƣ tạo ra những dấu ấn riêng biệt. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Nhà nƣớc Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Do đó hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch cũng không chỉ bao gồm các yếu tố riêng của ngành du lịch mà bao gồm tất cả các yếu tố của các ngành khác đƣợc huy động vào hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ du lịch thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời.
Từ đặc trƣng đó, khái niệm về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng đƣợc đề cập đến hai khía cạnh. Theo nghĩa rộng nói chung và theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch đƣợc hiểu là toàn bộ các phƣơng tiện vật chất kỹ thuật đƣợc huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ. Theo cách hiêu này, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch bao gồm cả cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc bản thân ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành khai thác tiềm năng du lịch nhƣ: hệ thống đƣờng sá, cầu cống, bƣu chính viễn thông, điện nƣớc,… Những yếu tố này là yếu tố cơ sở hạ tầng xã hội.
Chính yếu tố này khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa du lịch với các ngành khác trong mối liên hệ liên ngành. Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đƣợc hiểu là toàn bộ các phƣơng tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch, các hóa cung cấp và thảo mãn nhu cầu của du khách. Chúng bao gồm các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chới giải trí, phƣơng tiện vân chuyển,… và đặc biệt nó bao gồm cả các công trình kiến trúc bổ trợ. Đay chính là yếu tố đặc trƣng trong hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch.
Nếu thiếu những yếu tố này thì nhu cầu du lịch của khách không đƣợc thỏa mãn. Do vậy, đây chính là yếu tố trực tiếp đối với 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch đƣợc tạo ra và cung ứng cho du khách. Việc phân chia cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp chỉ mang tính chất tƣơng đối. Nhƣng nó lại có ý nghĩa quan trọng đối với ngành du lịch.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, không chỉ có kinh nghiệm cổ truyền mà phải có khoa học công nghệ hiện đại. Kết hợp các yếu tố truyền thống với khoa học công nghệ hiện đai để tạo ra những sản phẩm chất lƣợng cao, giá thành hạ nhƣng vẫn mang bản sắc văn hóa dân tộc và tăng tính hấp dẫn cho du khách. Tài nguyên du lịch Khái niệm tài nguyên Những thập kỷ gần đây, du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn, mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trƣờng ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Theo Phạm Trung Lƣơng đã định nghĩa: “Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lƣợng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan, mà con ngƣời có thể sử dụng phục vụ chp cuộc sống và sự phát triển của mình”.Trần Đức Thanh: “Tài nguyên là tất cả những nguồn thông tin, vật chất, năng lượng được khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người.
Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, sản phẩm do bàn tai khối óc của con người làm nên, những khả năng của loài người,…Được sử dụng phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng.” Có rất nhiều khái niệm về tài nguyên.