Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bànhuyện. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bànhuyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Khái quát về đất đai 1. Khái niệm Đất đai là nguồn của cải, là tài sản cố định hoặcđầu tư cố định, là thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia. Đất đai còn là sự bảohiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải quacác thế hệ và như là một nguồn lực cho các mục đích tiêu dung (Đỗ Anh TàivàĐỗ Thị Lan, 2007).
Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014). Như vậy, đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng, gồm: khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều nằm ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật cùng các thành phần khác. Nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. Theo Điều 10 Luật Đất đai 2013 (Quốc hội, 2013 )phân loại đất đai thành 03 nhóm sau đây: - Nhóm đất nông nghiệp; - Nhóm đất phi nông nghiệp; - Nhóm đất chưa sử dụng.
Vai trò của đất đai Đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. 5 Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Hội nghị Bộ trưởng Môi trường các nước Châu Âu năm 1973 tại Luân Đôn đã dánh giá: “Đất đai là một trong những của cải quý nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên trái đất”(Đỗ Thị Lan, 2007). Bởi vậy không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay.
Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một vật tự nhiên thành một tài sản cộng đồng, của một quốc gia. Luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng; Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”(Quốc hội, 2013 ). Rõ ràng, đất đai không chỉ có những vai trò quan trọng như đã nêu trên mà nó còn có ý nghĩa về mặt chính trị. Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu và vốn đất đai mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia.
Đất đai còn là nguồn của cải, quyền sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo sự an toan tài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ.Đặc điểm của đất đai Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp. Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân bố của ngành nông nghiệp. Vai trò của đất đai càng lớn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất,. ngày càng tăng.
Diện tích đất đai có hạn. Sự giới hạn đó là do toàn bộ diện tích bề mặt của trái đất cũng như diện tích đất đai của mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ bị giớihạn. Sự giới 6 hạn đó còn thể hiện ở chổ nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành kinh tế quốc dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng. Do diện tích đất đai có hạn nên người ta không thể tùy ý muốn của mình tăngdiện tích đất đai lên bao nhiêu cũng được.
Đặc điểm này đặc ra yêu cầu quảnlý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các thành phần kinh tế,.và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch phân bố và sửdụng đất đai có cơ sở khoa học. Đối với nước ta diện tích bình quân đầu người vào loại thấp so với các quốc gia trên thế giới. Vấn đề quản lý và sửdụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và bền vững lại càng đặc biệt quan trọng. Đất đai được sử dụng cho các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Việc mở rộng các khu công nghiệp, các khu chế xuất, việc mở rộngcác đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nông lâm ngư nghiệp,.đều phải sử dụng đất đai. Để đảm bảo cân đối trong việc phân bổ đất đai cho cácngành, các lĩnh vực, tránh sự chồng chéo và lãng phí, cần coi trọng công tácquy hoạch và kế hoạch hóa sử dụng đất đai và có sự phối hợp chặt chẽ giữacác ngành trong công tác quy hoạch và kế hoạch hóa đất đai. Đất đai có vị trí cố định, tính chất cơ học, vật lý, hóa học và sinh học trong đấtcũng không đồng nhất. Đất đai được phân bổ trên một diện rộng và cố định ở từng nơi nhất định.
Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước, .) và các điều kiện kinh tế như kết cấu hạ tầng, kinh tế, công nghiệp trên các vùng và các khu vực nêntính chất của đất có khác nhau. Vì vậy việc sử dụng đất đai vào các quá trình sản xuất của mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính chất củađất cho phù hợp. Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng đất đai phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và chất lượng ruộng đất của từng vùng để mang lại hiệu quả kinh tế cao. Để kích thích việc sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, Nhà nước đề ra những chính sách đầu tư, thuế,.
cho phù hợpvới điều kiện đất đai ở các vùng trong nước. Trong nông nghiệp, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó không ngừng được nâng lên. Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực hiện phương thức thâm canh và chế độ canh 7 tác hợp lý. Sức sản xuất của đất đai biểu hiện tập trung ở độ phì nhiêu của đất đai.
Vì vậy cần phải thực hiệncác biện pháp hữu hiệu để nâng cao độ phì nhiêu của đất đai, cho phép năngsuất đất đai tăng lên. Quản lý nhà nƣớc về đất đai cấp huyện 1. Khái niệm, phân cấp, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện 1. Khái niệm Quản lý nhà nước là một thuật ngữ được sử dụng chủ yếu là ở các nước nơi đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước để mô tả cách Nhà nước quản lý đất đai và kiểm soát việc sử dụng đất.
Tại các quốc gia có sở hữu chủ yếu tư nhân về đất đai, sự kiểm soát của Chính phủ trong việc sử dụng đất được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống quy hoạch sử dụng đất và hệ thống địa chính. Quản lý nhà nước là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội được nhà nước giao quyền, và cá nhân có thẩm quyền lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích nhà nước mong muốn. Như vậy, quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai, đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân loại quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất, điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.Phân cấp quản lý nhà nước về đất đai cấp huyện Quyền quản lý đất đai của nhà nước được phân chia giữa các cấp trong bộ máy nhà nước. Chính quyền cấp huyện được phân cấp các thẩm quyền và chức năng quản lý nhà nước về đất đai (Đỗ Thị Lan và Đỗ Anh Tài, 2007)như sau: - Tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa, lập và lưu giữ hồ sơ địa giới hành chính trong phạm vi huyện trình ủy ban nhân dân tỉnh xác nhận.
Trực tiếp xác nhận hồ sơ địa giới hành chính của cấp xã. Tham gia lập và lưu giữ bản đồ địa chính, bản đồ hành chính. Tổ chức thực hiện lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất của địa phương. - Tổ chức thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lập 8 bản đồ quy hoạch sử dụng đất trong phạm vi huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi chỉnh ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, đồng thời tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong phạm vi huyện.