phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được trình bày trong 4 chương, 13 tiết. 15 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến vai trò, chức năng của nhà nƣớc trong lĩnh vực đất đai * Nghiên cứu khái quát về vai trò, chức năng của nhà nước trong lĩnh vực đất đai Một trong những công trình bàn luận về vai trò của nhà nước trong lĩnh vực đất đai là bài viết của Wei Li và cộng sự (2009) [161].
Trong công trình này các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích mô hình định lượng để xử lý thông tin điều tra thu thập tại một số địa phương ở Trung Quốc để đi đến khẳng định chính phủ có khá nhiều vai trò trong quản lý đất đai. Đó là: (1) Kiểm soát trên phạm vi cả nước đối với tài nguyên đất nhằm đảm bảo việc sử dụng đất đai vì lợi ích chung của toàn xã hội và bảo tồn tài nguyên đất gắn với bảo vệ môi trường; (2) Khuyến khích và có cơ chế khuyến khích các hoạt động đấu giá và đấu thầu đất cũng như đảm bảo tính minh bạch trong việc thu hồi đất; (3) Tiến hành quy hoạch nhằm khuyến khích sử dụng đất đai hiệu quả, bền vững cũng như giám sát việc thực hiện các chính sách sử dụng đất; (4) Thực hiện phân bổ tài nguyên đất dựa trên hiệu quả kinh tế, đồng thời đảm bảo thúc đẩy phát triển kinh thế bằng đòn bẩy trên thị trường đất đai kết hợp hài hòa với các mục tiêu chính trị và xã hội. Ở Việt Nam, Ngô Thị Duyên (2016) [27] đã nêu ra những nhiệm vụ mà Nhà nước Việt Nam phải thực hiện trong lĩnh vực đất đai là: tập trung xây dựng, hoàn thiện thông tin đất đai; thực hiện cải cách hành chính liên quan đến giao dịch đất đai; xây dựng cơ chế chính sách thu hút, đãi ngộ cán bộ, công chức QLNN về đất đai… Một trong những giải pháp được tác giả chú trọng là tăng cường năng lực và đạo đức của đội ngũ cán bộ QLĐĐ các cấp vì đây là nhân tố nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về đất đai. * Nghiên cứu về các khía cạnh cụ thể của vai trò nhà nước trong lĩnh vực đất đai Yingying Tian và các cộng sự (2021) đã xây dựng khung lý thuyết cho việc xác định chỉ số phát triển đất công nghiệp, cải thiện hiệu quả sử dụng đất, coi đó 16 như một công cụ theo dõi và quản lý hiệu quả đất đai phi nông nghiệp.
Theo các tác giả, đất sử dụng trong ngành dịch vụ có khả năng tạo giá trị gia tăng cao nhất, tiếp theo là đất trong ngành công nghệ cao. Đất sử dụng tại các ngành công nghiệp nhẹ cũng đem lại hiệu quả sử dụng khá cao. Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả đề xuất cần xây dựng hệ thống quản lý chất lượng mới về các chỉ số tiếp cận đất công nghiệp căn cứ vào các ngành công nghiệp, các khu vực địa lý nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng đất công nghiệp tại Bắc Kinh, Hà Bắc, Thiên Tân Trung Quốc [168]. MauAulay, Phạm Văn Hùng (2007) [53] đã đề cập đến trách nhiệm của nhà nước khi đưa ra chính sách quy hoạch không hiệu quả.
Nói cách khác, nhà nước cần có trách nhiệm đền bù với những chính sách quy hoạch không đem lại kết quả tốt đối với KT-XH. * Kinh nghiệm thực thi vai trò QLNN trong lĩnh vực đất đai Thomas Odunlami (1989) [159] nghiên cứu trường hợp cụ thể của Ban phát triển đô thị bang Kano và đi đến nhận định: giải quyết khó khăn từ những mâu thuẫn trong pháp luật đất đai là vấn đề cấp bách và có tác động trực tiếp đến lợi ích của việc quản lý, phát triển đất đô thị. Theo ông, các quy định pháp lý đồng bộ, nhất quán với các quy định pháp lý khác là cơ sở để cơ quan nhà nước quản lý hiệu quả lĩnh vực phát triển đất đô thị. MartaGross, AdaWolny-Kucińska [144] đã nghiên cứu trường hợp quản lý đất đai tại Ba Lan và đi đến nhận định: QLĐĐ và BĐS là lĩnh vực phức tạp và là thách thức đối với CQĐP.
Những hạn chế phổ biến trong QLĐĐ, BĐS tại Ba Lan là: quy định, hướng dẫn còn chung chung, thiếu nguồn nhân lực, tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số thành phố của Ba Lan, do chỉ chú trọng đến việc cân đối tài chính trong QLĐĐ, nên đã cố gắng áp dụng các chính sách mang lại doanh thu cao hơn chi phí, đóng góp tích cực cho sự phát triển địa phương. Ngược lại, có một số thành phố, do QLĐĐ, BĐS không hợp lý dẫn đến gánh nặng tài chính đáng kể cho ngân sách địa phương. Các tác giả cũng chỉ ra rằng, CQĐP cần có công cụ riêng để QLĐĐ và sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý BĐS, cơ quan tài chính và các cơ quan khác của CQĐP là cần thiết để đảm bảo hiệu quả QLĐĐ, biến nó thành một nguồn thu phục vụ tăng trưởng, phát triển kinh tế địa phương.
Bazame và cộng sự (2019) đã phân tích hệ thống quản lý đất đai tại Burkina Faso [154] và chỉ ra năng lực hạn chế của các cơ quan, tổ chức QLNN về đất đai dẫn đến nhiều điều tai hại, ngay cả khi họ áp dụng tương đối đầy đủ chính sách đất đai. Điều tai hại nhất được kể ra là: khả năng tiếp cận đất đai, phát triển tài nguyên đất, thị trường đất đai, đầu tư các loại hạ tầng tại đây còn kém hiệu quả. Bài báo khẳng định, ngoài các yếu tố KT-XH thì thể chế, bộ máy quản lý ảnh hưởng quyết định đến kết quả quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Nguyễn Cảnh Quý và các cộng sự (2017) [72] đã hệ thống hóa cơ sở lý luận QLNN về đất đai ở Việt Nam, trong đó đã làm rõ vai trò, chức năng, đặc điểm QLNN về đất đai của UBND cấp tỉnh, chỉ ra các nguyên tắc và các yếu tố đảm bảo hiệu quả hoạt động QLNN của UBND cấp tỉnh.
Thực trạng QLNN về đất đai của các UBND cấp tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2013 - 2017 cũng được mô tả rõ nét. Nhóm nghiên cứu cũng nêu ra một số phương hướng và đề xuất các giải pháp có thể tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về đất đai của các UBND cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng. Ngô Hồng Nhung (2021) đã chỉ ra thành tựu, hạn chế của QLNN về đất đai tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An [63]. Theo tác giả, chính quyền thành phố Vinh đã thành công nhờ quản lý đất đai dựa trên nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả và khai thác triệt để quỹ đất phục vụ phát triển KT-XH, tạo sự đồng thuận trong nhân dân.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung quản lý nhà nƣớc đối với đất đai 1. Tình hình nghiên cứu về quyền sở hữu đất đai Hernando De Soto (2006) [32] đã khẳng định đất đai với tư cách là một nguồn lực phát triển cơ bản có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của một quốc gia. Theo ông, để phát huy được nguồn lực đất đai, cần thiết lập thể chế chế định rõ ràng, có hiệu lực thực thi nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai, thiết lập khung pháp lý phù hợp để người chủ đất có quyền sử dụng đất như một tài sản đặc biệt trong các hoạt động kinh doanh thông qua tác động điều tiết của thị trường BĐS cũng như có thể thế chấp đất tại ngân hàng để huy động vốn phát triển sản xuất. Ông cũng cho rằng sở dĩ các nước phát triển có thể sử dụng đất với hiệu quả cao là do đã định hình từ rất lâu các thể chế xác định, bảo vệ quyền sở hữu đất đai.
Các 18 nước lạc hậu không phát huy được nguồn lực đất đai là do thiếu thể chế rõ ràng, minh bạch, có hiệu lực nhằm xác định, bảo vệ hữu hiệu quyền của chủ đất. Ông còn khẳng định: nếu người dân ở nước nghèo có được quyền sở hữu đất thì họ có thể thế chấp đất để vay được số lượng lớn vốn tín dụng cho phép họ SDĐ hiệu quả hơn. Số vốn từ thế chấp đất của các nước nghèo lớn gấp nhiều lần vốn mà các nước phát triển viện trợ cho nước lạc hậu. Nói cách khác, Hernando De Soto cho rằng nhà nước phải thiết lập được thể chế xác định, bảo vệ quyền sở hữu đất hợp pháp của chủ đất và coi đó là điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả đất đai.
Tongwei Qiu và cộng sự (2021) đã nghiên cứu tác động của sở hữu nhà nước về đất đai và tư nhân hóa đất đai qua bằng chứng cho thuê đất tại nông thôn Trung Quốc [160]. Nhóm tác giả đã dự đoán những thuận lợi nếu đất đai được tư nhân hóa như hiệu quả sử dụng đất sẽ cao hơn, người có đất được thừa kế quyền sở hữu cho thành viên gia đình sẽ tích cực tham gia vào thị trường cho thuê đất đai. Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng, không phải chỉ có tư nhân hóa về đất đai mới là biện pháp duy nhất thúc đẩy thị trường BĐS phát triển. Hơn nữa, ở Trung Quốc, nếu thay đổi chế độ sở hữu về đất đai ngay lập tức sẽ đem lại các tác động không mong muốn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt chính trị.
Quan nghiên cứu trường hợp của thành phố Lôi Châu các tác giả đã đi đến khẳng định, QSDĐ theo chế độ sở hữu đất đai như của Trung Quốc hiện nay vẫn có thể tạo ra sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực sản xuất theo cơ chế thị trường. Trong công trình này đã đưa ra số liệu minh chứng cho thấy, từ khi Trung Quốc điều chỉnh thể chế đất đai (2009), người dân có nhiều quyền hơn về đất, đặc biệt là quyền thừa kế, quyền cho thuê đất theo giá thị trường,… Theo các tác giả, đây là những cải cách quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo sự công bằng trong quan hệ đất đai tại Trung Quốc hiện nay. Tác giả Vũ Văn Phúc, Trần Thị Minh Châu (2017) trong công trình nghiên cứu của mình [67] đã đề cập đến các quan niệm khác nhau về sở hữu đất trong đó đặc biệt nhấn mạnh quan điểm của C. Mác cho rằng, đất đai là tài sản chung do thiên nhiên ban tặng cho con người.