phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề án gồm 3 phần: Phần 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với đất đai trên địa bàn một thành phố. Phần 2: Thực trạng quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Phần 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. PHAN 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN VE QUAN LY NHA NUOC DOI VOI DAT DAI TREN DIA BAN MOT THANH PHO 1.
Khái niệm, vai trò về quản lý nhà nước về đất đai 1. Vai trò, đặc điểm của đất đai *Vai trò của đất dai Theo Điều 54 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt năm năm 2013 quy định “Đất đái là tài nguyên đặc biệt của Quốc gia, nguôn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”. Vì vậy, sử dụng nguồn tài nguyên đất đai tiết kiệm và có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước đồng thời là yếu tố quyết định sự phát triển một cách bền vững của nền kinh tế, đảm bảo mục tiêu ổn định chính trị - xã hội. Trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động và nơi sinh tồn của xã hội loài người.
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tôn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dai con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia. Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay!” Ba vai trò chính của đất đai: + Dat dai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, nó là điều kiện cho sự sống của động, thực vật và con người trên trái đất. Nếu không có đất đai thì rõ ràng con người không thể tồn tại. Đất đai và các công trình gắn với đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội, là địa điểm, là cơ sở hình thành nên các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, kỹ thuật và an ninh quốc phòng. + Đất đai kết hợp với các điều kiện tự nhiên khác trở thành cơ sở quan trọng trong hình thành các vùng kinh tế của đất nước (nước ta có 7 vùng kinh tế - sinh thái).
Trên cơ sở phân vùng kinh tế, việc khai thác các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng sẽ được phát huy vả sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của xã hội. Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai của mỗi vùng kinh tế là nhiệm vụ quan trọng trong quản lý sử dụng đất của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế của đất nước. + Đất đai là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống con người. Chúng vừa là phương tiện sống, vừa là phương tiện sản xuất.
Đất ở, là bộ phận cấu thành của nhà ở, là phương tiện sống để bảo vệ con người trước các hiện tượng thiên nhiên như nắng, mưa, bão, rét. Đất đai cũng đóng vai trò là địa điểm để xây dựng các công trình như nhà máy, văn phòng, cửa hàng. là phương tiện để con người thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh để tồn tại và phát triển. (Phạm Lan Hương, 2020) * Đặc điểm của đất dai Theo khoản 2 Điều 4 Thông tư 14/2012/TT-BTNMT về Quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành: “Đá dai la một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tô tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chat, thủy văn, thực vật, động vat cu tru và hoạt động san xuất của con người ”.
Theo Khoản 4, Điều 4 Thông tư 14/2012/TT-BTNMT: “Đặc điển dat dai la thuộc tính của đất, có thể đo lường hoặc ước lượng trong quá trình điều tra, bao gồm cả điều tra thông thường cũng như bằng cách thống kê tài nguyên thiên nhiên như: loại đất, độ dốc, độ day tang dat min, lượng mưa, độ ẩm, điều kiện tưới, điểu kiện tiÊM HưỚC,. ” Đất đai là sản phẩm tự nhiên, không sản sinh và có khả năng tái tạo. Đất là vật thể thiên nhiên được hình thành từ lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động của các yếu tố: đá, thực động vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Khả năng phục hồi và tái tạo đất chính là khả năng phục hồi và tái tạo độ phì nhiêu của đất thông qua tự nhiên hay tác động của con người.
Khả năng phục hồi và tái tạo đất chính là khả năng phục hồi và tái tạo độ phi nhiêu của đất thông qua tự nhiên hay tác động của con người. Như vậy, đất đai là sản phẩm tự nhiên, con người không thể tạo ra đất. Tuy vậy, thông qua hoạt động của mình con người có thê tác động vào đất đề cải thiện độ phi nhiêu của đất và biến đôi từ đất xấu thành đất tốt và từ đất không sử dụng được thành đất có thể sử dụng được. Tính hai mặt này của đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình tố chức quản lý sử dụng đất.
Một mặt phải nhận thức được đất đai là nguồn lực tự nhiên và phải biết cách tác động để cải thiện chất lượng đất. Mặt khác, phải biết sử dụng hết sức tiết kiệm vì đó là nguồn tài nguyên không sản sinh được. Đất đai bị giới hạn bởi diện tích bề mặt trái đất. Sự giới hạn của đất đai được thể hiện ở sự giới hạn trong tổng diện tích đất đai của mỗi quốc gia, mỗi địa phương.
Tuy vậy, diện tích đất được sử dụng vào những mục đích cụ thể không hoàn toàn như vậy, thông qua việc chuyên đổi mục đích sử dụng làm lượng đất dùng cho những mục đích khác nhau có thể thay đổi. Tuy vậy, sự thay đổi này không phải là vô hạn mà nó bị hạn chế trong diện tích không gian lãnh thô của mỗi địa phương và mỗi quốc gia. Do đặc tính có giới hạn này khi sử dụng đất đai phải tiết kiệm và bồ trí sử dụng một cách phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Dat dai có tính cố định về mặt địa lý, không thé di chuyén duoc.
Tinh cé dinh về vị trí của đất không phải là đặc tính có thê dùng yếu tố nhân tạo để thay đổi được, ngay cả khi có nhu cầu đặc biệt phải nâng cao giá trị của đất, thi cũng không thể thay đổi được vị trí địa lý của nó. Đối với mỗi vị trí, đất đai gắn liền với các đều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định. Cũng do đất đai có đặc điểm cố định về vị trí và gắn liền với một vị trí nhất định nên đất đai chịu sự ảnh hưởng một sỐ yếu tố vùng và yếu tố khu vực. Những yếu tô vùng và khu vực có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá trị và khả năng sinh lời của đất đai bao gồm yếu tố tự nhiên, điều kiện kinh tế, tính chất xã hội và điều kiện môi trường.
Đất đai có tính đa dạng và phong phú do đất đai gắn liền với các điều kiện hình thành và môi trường tự nhiên của mỗi vùng nên có nhiều loại đất khác nhau. Các loại đất khác nhau về tính chất hóa học, ly hoc va thành phan co gidi. Su da dang cua đất đai đã tạo nên sự đa dạng trong việc bồ trí sử dụng đất, đặc biệt đối với ngành sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, do yêu cầu, đặc điểm và mục đích sử dụng một loại đất cũng có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Đặc điểm này đòi hỏi con người khi sử dụng cần khai thác triệt để các lợi thế của đất, bố trí sử dụng hợp lý từng loại đất nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có ích phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của con người. Đất đai có tính dị biệt, không thể tồn tại hai thửa đất hoàn toàn giống nhau cùng tồn tại trên cùng một vị trí. Mỗi thửa đất là một tài sản h riêng biệt không giống với bất kỳ một thửa đất nào khác. Sự khác biệt của thửa đất là do khác biệt về vị trí lô đất, khác biệt về kích thước, diện tích, loại đất, hướng, cảnh quan và vật ngoại cản.
Vì vậy, tài sản đất đai là tài sản đặc biệt, dị biệt và không co tai san nao khác có thé so sánh hoàn hảo. Đất đai có tính lâu bền. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên vả tồn tại mãi mãi không thể bị tiêu hủy (trừ một số trường hợp đặc biệt như động đất, núi lửa, sạt lở đất,. Trong quá trình sử dụng bắt cứ tư liệu sản xuất nào cũng sẽ trở nên cũ và bị hư hỏng và cuối cùng phải loại bỏ, nhưng với đất dai chi cần được sử dụng hợp lý thì độ phì nhiêu và sức sản xuất của nó có thể liên tục tăng lên, đất đai trở thành một tư liệu sản xuất mang tính lâu bền và sử dụng liên tục không ngừng.