CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÉ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VOI DAT NÔNG NGHIỆP 1.1 Những van dé chung về dat nông nghiệp 1.1 Khái niệm đất nông nghiệp Đối với mỗi quốc gia đất đai là tài nguyên quý giá bậc nhất, là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tai và phát triển của của con người không những vậy nó còn mang ý nghĩa to lớn về mặt chính trị.Mác “Dat dai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện dé sinh ton, là điều kiện không thé thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Vì thé cha ông ta đã phải bảo vệ bang cả xương máu dé con cháu đời sau có đất đai sinh sống và phát triển. Theo luật dat đai ban hành năm 1993 của Việt Nam: “Dat dai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phan quan trọng hàng dau của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dung các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng ” Như vậy đất đai được dùng hầu hết vào trong các ngành sản xuất và trong cả các lĩnh vực của đời sông. Tuy vậy từng ngành sản xuất và lĩnh vực của đời sống thì đất đai được phân thành nhiều loại khác nhau và được đặt tên theo ngành và lĩnh vực mà nó đảm nhiệm.
Theo quan niệm của người Việt Nam chúng ta thì đất nông nghiệp được hiểu đơn giản là đất dé trồng lúa và hoa màu, quan niệm này tuy đúng nhưng chưa đủ, theo Wikipedia tiếng việt “Dat nông nghiệp là những vùng dat, khu vực thích hop cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trong trọt và chăn nuôi ”. Từ đó chúng ta hiểu được đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, bảo vệ và phát triên rừng hoặc sử dụng đê nghiên cứu về nông nghiệp. Chuyên đề tốt nghiệp 11 GVHD: PGS. Ngô Thị Phương Thảo 1.2 Đặc điểm đất nông nghiệp Ngoài tên gọi đất nông nghiệp thì dat được sử dụng dé sản xuất nông nghiệp con được gọi là ruộng dat.
Đất nông nghiệp có đặc điểm chung của đất dai và dong thời cũng có những đặc điêm riêng cơ bản sau: Một là, dat nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu, vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động (Tailieu. Dat nông nghiệp là tải sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tài liệu sản xuất đặc biệt không thé thay thé của ngành nông — lâm nghiệp, là tiền đề của mọi quá trình sản xuất. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã khang định rang “Đất dai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và là nguồn von to lớn cua đất nước ”. Đỗi với các loại đất chuyện dụng khác thì đất đai chỉ là đối tượng lao động và con người phải sử dụng tài liệu lao động dé tác động vào đất đai và tạo ra sản phẩm, còn đối với đất nông nghiệp khi mà con người sử dụng công cụ sản xuất tác động vào đề cày, bừa.
nhằm làm tăng chất lượng của đất, tạo điều kiện để gia tăng năng suất và chất lượng cây trồng thì khi đó đất nông nghiệp là đối tượng lao động. Ngược lại khi con người sử dụng công cụ sản xuất tác động lên đất thông qua các thuộc tính sinh-lý-hóa và một số thuộc tính khác của đất dé tác động lên cây trồng thì trong quá trình đấy đất nông nghiệp đóng vai trò là tư liệu lao động. Chính vì sự kết hợp của cả đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho đất nông nghiệp trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu trong nông nghiệp.vn, 2012) Hai là, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động (Tailieu. Chúng ta đều biết đất đai vốn là sản phâm của tự nhiên, có trước lao động và nó tồn tại không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người.
Đất nông nghiệp được hình thành do quá trình phong hóa đá và sự tác động của vi sinh vật, nhiệt độ, độ âm, ánh sáng.và do con người tiến hành khai thác, sử dụng nhằm mục đích phục vụ cho đời sống. Qua thời gian, con người đã khai hoang, cải tạo trong nhiều thế hệ, dần dần đất đai ngày một phì nhiêu và có giá trị hơn. Vì thế ngày nay đât nông nghiệp vừa là sản phâm của tự nhiên, vừa là sản phâm của lao Chuyên đề tốt nghiệp 12 GVHD: PGS. Ngô Thị Phương Thảo động.Mác đã từng viết: “Tuy có những thuộc tính như nhau, nhưng một đám đất được canh tác có giá trị hơn một đám đất bị bỏ hoang ”.
Và đê đất đai ngày một giá trị hơn con người cần phải không ngừng cải tạo và bồi dưỡng, đồng thời phải khai thác đất nông nghiệp một cách hợp lý làm cho đất ngày càng màu mỡ. Việc có sử dụng được hợp lý ruộng đất hay không phụ thuộc to lớn vào quá trình sử dụng và khai thác hiệu quả. Do đó trong quá trình sử dụng phải tìm mọi biện pháp nhăm bảo vệ đất, chống xói mòn,. Phải thường xuyên coi trọng công tác bồi dưỡng và cải tạo đất nhằm tăng độ phì nhiêu và hiệu quả sử dụng đất.
Ba là, đất nông nghiệp có vị trí cố định và không thé di chuyển được (Tailieu. Đối với đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng thì đều là tài nguyên thiên nhiên không thê sinh sản được. Trong phạm vi của mỗi địa phương, vùng miền hay trên phạm vi quốc gia thì đất đai đều bị giới han và có vị trí có định gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng. Diện tích của mỗi nơi, mỗi vùng miền có giới hạn khác nhau và không đổi.
Tuy vậy diện tích đất nông nghiệp vẫn có thê tăng lên nhờ việc khai hoang diện tích đất chưa sử dụng hoặc chuyên từ đất khác sang đất nông nghiệp nếu cần thiết. Chính vì giới hạn về mặt diện tích nên yêu cầu con người phải sử dụng đất đai thật hiệu quả, khai thác hết những tiềm năng của đất đai nhằm đáp ứng nhu cầu của con người nhưng kèm theo đó vẫn phải đáp ứng tiêu chí sử dụng bền vững. Mặt khác, xu thế đô thị hóa ngày càng tăng nhanh khiến cho con người có xu hướng chuyên đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích khác dé thu được hiệu quả kinh tế cao hơn. Quá trình này làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và ở Việt Nam xu hướng này đã và đang diễn ra ngày một nhanh chóng.
Dé vừa đáp ứng được xu thế đô thị hóa ngày càng tăng nhanh vừa sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp, cần kết hợp giữa sản xuất hợp lý và quy hoạch đồng bộ các khu vực canh tác đất nông nghiệp, cải thiện điều kiện tự nhiên, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cau hạ tang nham tao điều kiện sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn. Bon là, đất nông nghiệp bị giới hạn về mặt diện tích nhưng sản xuất là không giới hạn (Tailieu. Do đặc điểm tự nhiên của đất đai cho nên diện tích đất Chuyên đề tốt nghiệp 13 GVHD: PGS. Ngô Thị Phương Thảo nông nghiệp được đưa vao canh tác bị giới hạn, bởi vì diện tích của từng địa phương, từng quốc gia là hữu hạn.
Ví dụ diện tích đất tự nhiên của huyện Nghi Lộc là 34.581,12ha, chiếm 2,08% diện tích tự nhiên của tỉnh Nghệ An trong đó diện tích đất nông nghiệp là 23.593,44ha chiếm 68,23% diện tích đất tự nhiên của huyện. Và tất nhiên không phải tất cả diện tích đất tự nhiên đều có thể đưa vào canh tác, nó còn tùy thuộc vào điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng địa phương, từng quốc gia mà sẽ có ty lệ phần trăm đất nông nghiệp thích hợp. Tuy nhiên dù bị giới hạn về mặt diện tích nhưng sản xuất trên đất nông nghiệp lại không có giới hạn, trên mỗi đơn vị diện tích đất nông nghiệp nếu đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất thì số lượng sản phẩm mà mỗi diện tích đất nông nghiệp đem lại ngày càng nhiều hơn, chất lượng hơn. Tổng thê nhìn chung quỹ đất tự nhiên nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng luôn có giới hạn về mặt diện tích nhưng trong khi đó nhu cầu về nông sản của con người ngày một tăng lên.
Vì thé cần bố trí sử dụng đất nông nghiệp một cách hết sức hiệu quả, tránh lãng phí quỹ đất của từng địa phương, từng quốc gia. Nam là, đất nông nghiệp có chất lượng không đông đều (Tailieu. Vì chúng ta đã biết dat đai là sản phẩm của tự nhiên, là sản phẩm của quá trình phong hóa đá cho nên ở mỗi vùng có sẽ có hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất khác nhau dẫn đến chất lượng không đồng đều. Có những nơi sẽ có đất tốt, phù hợp với sản xuất nông nghiệp nhưng có nhiều nơi lại không phù hợp dé sản xuất nông nghiệp.
Thế nhưng đất đai lại không bị hao mòn hay đào thải khỏi quá trình sản xuất mà có thé cải tạo, biến đất xấu thành đất tốt nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp của con người. Trong quá trình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp cần thường xuyên cải tạo đất đai, không ngừng nâng cao chất lượng, độ đồng đều của đất nông nghiệp ở từng địa phương nhằm dat năng suất cây trồng cao.Mác: “Uu thé của đất là những khoản đầu tư liên tiếp có thé đem lại lợi nhuận mà không làm thiệt hại đến những khoản dau tư trước, uu thé đó của đất đông thời cũng bao ham cả khả năng có những sự chênh lệch trong sản phẩm của những khoản dau tư liên tiếp ay”. Điêu này có nghĩa là việc nâng cao chat lượng, độ đồng đêu của dat là cân thiệt Chuyên đề tốt nghiệp 14 GVHD: PGS. Ngô Thị Phương Thảo đê vừa không ngừng nâng cao năng suât và chat lượng nông sản lại vừa bảo vệ dat, giữ được độ phì nhiêu vốn có nhằm mục đích sử dụng lâu dài và bền vững.3 Phân loại đất nông nghiệp Căn cứ vào khoản 1 điều 10 luật đất đai 2013 về phân loại đất.