CHƯƠNG 1 ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC 1. Khái niệm và bản chất của đăng ký kinh doanh 1. Khái niệm đăng ký kinh doanh: Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi tiến hành kinh doanh, chủ thể phải thực hiện ĐKKD, đây là hành vi mang tính chất tiền đề khá quan trọng. Nhà làm luật tại Việt Nam chưa có định nghĩa khái niệm ĐKKD dù thuật ngữ này được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật kinh tế như Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) 1990, LDN 1999, LDN 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Thương mại 2005, các luật chuyên ngành khác (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính,…) và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành.
Nhìn chung, có thể thấy khái niệm ĐKKD được các nhà nghiên cứu lý luận và các nhà hoạt động thực tiễn tiếp cận ở hai khía cạnh như sau: - Ở khía cạnh thứ nhất, ĐKKD là hoạt động trong đó nhà đầu tư khai báo với cơ quan QLNN về ĐKKD và giới kinh doanh về dự kiến hoạt động kinh doanh của mình. - Ở khía cạnh thứ hai, ĐKKD là một thủ tục hành chính bắt buộc, là biện pháp để Nhà nước quản lý hoạt động của các DN. Từ hai cách tiếp cận như trên, chúng tôi cho rằng: “Đăng ký kinh doanh là hoạt động của người kinh doanh nhằm khai trình với cơ quan nhà nước và giới kinh doanh về hoạt động kinh doanh của mình và được Nhà nước ghi nhận bằng hình thức cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. 11 Thật vậy, theo quy định của LDN hiện hành (2005) trước khi tiến hành ĐKKD người thành lập DN phải dự liệu, kế hoạch những thông tin cơ bản nhất của DN (bao gồm: loại hình DN; tên gọi, địa chỉ trụ sở, vốn điều lệ của DN; các ngành nghề DN kinh doanh; người đại diện DN trước pháp luật; cơ cấu góp vốn, cơ cấu tổ chức hoạt động và các vấn đề cơ bản khác của DN được quy định trong Điều lệ Công ty phù hợp với LDN) và thông báo đăng ký với cơ quan ĐKKD.
Cơ quan ĐKKD xem xét và nếu những thông tin trên về mặt hình thức không trái với quy định của LDN thì sẽ cấp giấy chứng nhận (GCN) ĐKKD cho DN. Thời gian xem xét thông tin và cấp GCN ĐKKD là 10 ngày làm việc kể từ khi nộp đầy đủ hồ sơ thông tin hợp lệ. Theo Khoản 2 Điều 15 của LDN 2005 thì Nhà nước chỉ làm thủ tục công nhận cho sự ra đời của một DN, còn bản thân các DN phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung các thông tin mà mình đăng ký trước pháp luật. Mặt khác, theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, Nhà xuất bản Tư pháp – Bộ Tư pháp phối hợp với Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa tháng 11 năm 2006 thì ĐKKD là sự ghi nhận bằng văn bản của CQNN có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh.
ĐKKD được thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định, áp dụng thống nhất trong cả nước. Khi ĐKKD, các thông tin cần thiết về DN được ghi vào sổ ĐKKD, DN được cấp GCN ĐKKD và có thể bắt đầu hoạt động. Tổ chức, cá nhân được yêu cầu cơ quan ĐKKD hướng dẫn về thủ tục, nội dung ĐKKD, cấp bản sao GCN ĐKKD, GCN thay đổi ĐKKD…và phải trả phí theo quy định của pháp luật. 12 Việc ĐKKD tạo cơ sở pháp lý cho công tác QLNN về kinh tế, xác nhận sự tồn tại và hoạt động của DN, cung cấp thông tin cần thiết về DN nhằm tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia quan hệ với DN.
Bản chất của đăng ký kinh doanh: Có thể nói thủ tục thành lập và ĐKKD đối với DN trong nước ở nước ta đã được thiết lập từ sau khi có Luật Công ty và Luật DNTN 1990. Khi đó, để thành lập DN nhà đầu đư phải tiến hành hai bước: (1) Giai đoạn xin phép thành lập DN ở UBND cấp tỉnh hoặc đơn vị hành chính cấp tương đương, nơi dự định đặt trụ sở chính; (2) Giai đoạn xin cấp GCN ĐKKD tại Sở KH&ĐT. Theo đó, để tiến hành một hoạt động kinh doanh theo hình thức công ty hay DNTN, thì nhà đầu tư phải qua hai giai đoạn thủ tục “xin phép thành lập và ĐKKD”. Mỗi giai đoạn thủ tục này lại cần nhiều loại giấy tờ, con dấu khác nhau (giấy tờ chứng thực trụ sở giao dịch, phương án kinh doanh và những xác nhận khác về nhân thân của chủ đầu tư như GCN sức khoẻ, giấy xác nhận không mắc bệnh tâm thần, xác nhận của UBND xã, phường về hộ khẩu thường trú, xác nhận của công an xã, phường về đối tượng không thuộc loại người bị kết án tù mà chưa được xoá án, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xác nhận về vốn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, v.), do đó để thành lập DNTN hay công ty, nhà đầu tư tốn rất nhiều thời gian (từ 3 tháng đến 14 tháng) cũng như chi phí.
Theo Thông tư liên tịch 05/1998/TTLT-KH&ĐT-TP ngày 10/7/1998, thủ tục thành lập và ĐKKD đối với DNTN và công ty tuy có đơn giản hơn đôi chút nhằm thực hiện chương trình cải cách hành chính theo cơ chế “1 cửa, 1 dấu” nhưng rõ ràng vẫn là thủ tục hành chính 2 bước (xin phép thành lập và ĐKKD). 13 Nhằm khắc phục những hạn chế trên, thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong việc thành lập DN, cũng như để cụ thể hoá quyền tự do kinh doanh theo quy định tại Điều 57 Hiến pháp 1992, LDN 1999 ra đời thay thế Luật Công ty và Luật DNTN 1990, quy định: thành lập DN là quyền của công dân, không phải xin phép cơ quan nhà nước (CQNN), CQNN có nghĩa vụ ĐKKD để xác lập quyền kinh doanh của công dân, có nghĩa vụ bảo vệ quyền sở hữu tên DN khi ĐKKD(1); công dân có quyền tự do lựa chọn quy mô, loại hình tổ chức kinh doanh; công dân có quyền tự do lựa chọn thị trường, địa bàn kinh doanh; công dân có quyền tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm. Theo đó, muốn thành lập DN chỉ cần thực hiện ĐKKD. Như vậy, pháp luật về ĐKKD đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ xin phép thành lập DN, chuyển sang chế độ đăng ký thành lập DN, coi việc thành lập DN và ĐKKD là quyền của công dân, tổ chức.
Phạm vi kinh doanh của DN không bị bó hẹp trong “những ngành nghề mà Nhà nước cho phép” theo cơ chế “xin-cho” mà được mở rộng sang hình thức “được làm những gì mà Nhà nước không cấm”. LDN 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006) tiếp tục kế thừa LDN 1999 và phát huy tối đa trong việc củng cố và mở rộng quyền tự do kinh doanh, thành lập DN của các nhà đầu tư không phân biệt đó là nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài. LDN 2005 đã đơn giản hóa trình tự, thủ tục ĐKKD, hạn chế tối đa các rào cản gia nhập thị trường không cần thiết, tạo thuận lợi cho những người có khả năng thành lập DN biến nguyện vọng kinh doanh của mình thành hiện thực. Điều 15 LDN 2005 quy định người muốn thành lập DN chỉ cần nộp đủ hồ sơ ĐKKD theo quy định của luật thì có quyền kinh doanh và Điều 11, LDN 2005 quy định cơ quan ĐKKD không được “từ chối cấp GCN ĐKKD cho người đủ điều kiện (1): ĐKKD và đăng ký nhãn hiệu hàng hoá là hai việc độc lập ở hai thời điểm khác nhau phục vụ cho hai mục đích khác nhau, ĐKKD để khai sinh ra pháp nhân, còn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá là để bảo vệ hình ảnh của pháp nhân, và do vậy, dường như trong nhận thức của hầu hết các doanh nghiệp, hai việc này thường không được tính toán đồng bộ, dẫn đến một số khó khăn cho doanh nghiệp khi tiến hành đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hoá.
14 theo quy định của Luật này”; không được gây chậm trễ, phiền hà, cản trở, sách nhiễu người yêu cầu ĐKKD và hoạt động kinh doanh của DN”. Không chỉ ở khâu đầu thành lập DN, nếu trong quá trình hoạt động mà chủ đầu tư phát sinh nhu cầu muốn chuyển đổi loại hình DN, chuyển đổi địa chỉ, người đại diện hoặc bất kỳ thông tin cơ bản nào của DN, thì chủ đầu tư cũng có toàn quyền tự do trong việc lựa chọn, quyết định loại hình DN, địa chỉ, người đại diện hoặc các thông tin khác phù hợp hơn để đăng ký chuyển đổi. Trường hợp DN làm ăn thua lỗ, hoặc nhận thấy cần phải chấm dứt hẳn hoạt động kinh doanh, nhà đầu tư có toàn quyền quyết định chấm dứt, hủy bỏ ĐKKD. Quyền tự do của DN trong ĐKKD không chỉ giới hạn ở lúc đầu thành lập DN, mà nó được duy trì dưới sự bảo hộ và bảo vệ của Nhà nước trong suốt quá trình hoạt động, chuyển đổi, chấm dứt của DN.
Đồng thời, thông qua việc ĐKKD, Nhà nước nắm bắt và tổng hợp được tất cả các DN đang hoạt động để thực hiện chức năng thu thuế, đồng thời đặt cơ sở ban đầu cho công tác quản lý trong khâu hậu kiểm, thực hiện việc điều tiết kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng giữa các DN ngay từ khâu gia nhập thị trường. Như vậy, về bản chất, ĐKKD được xem xét dưới hai góc độ: Thứ nhất, hành vi của chủ thể nhằm thực hiện nhu cầu kinh doanh của mình, đây được coi là việc chủ thể muốn xác lập quyền tự do kinh doanh của mình, đã tự tìm mọi cách để thực hiện nhu cầu của mình; Thứ hai, đó là hành vi quản lý của CQNN có thẩm quyền, đây là sự khẳng định của Nhà nước về tư cách chủ thể kinh doanh: hoặc là tạo cho họ tư cách chủ thể kinh doanh độc lập, hoặc tạo cho họ một tư cách chủ thể mang tính nhân định (pháp nhân). Dù xét ở góc độ nào thì hành vi ĐKKD cũng được thực hiện theo những trình tự và thủ tục mà pháp luật quy định. Điều này có nghĩa là tự do kinh 15 doanh sẽ không thể được xác lập nếu thiếu những quy định pháp luật bảo đảm việc ĐKKD của các cá nhân và tổ chức.
ĐKKD là hành vi QLNN đối với DN, là việc Nhà nước chính thức thừa nhận tư cách pháp lý của DN và các chủ thể kinh doanh khác và sẽ thực hiện việc giám sát đối với hoạt động của chúng.