Chương 1 LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CẤP CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 1. Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng 1. Khái niệm chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng 1. Khái niệm về chứng chỉ hành nghề Khái niệm "chứng chỉ hành nghề" được sử dụng phổ biến trong xã hội nói chung và trong các văn bản quy phạm pháp luật nói riêng, ví dụ: chứng chỉ hành nghề y, chứng chỉ hành nghề luật sư, chứng chỉ hành nghề kiểm toán, chứng chỉ hành nghề kế toán, chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản v.
Vậy chứng chỉ hành nghề là gì? Đi sâu tìm hiểu về chứng chỉ hành nghề cho thấy trong xã hội có những ngành, nghề muốn được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì phải có chứng chỉ hành nghề; ngược lại, có những ngành, nghề kinh doanh không yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề. Có những quan niệm khác nhau về chứng chỉ hành nghề. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: "Chứng chỉ: Giấy chứng nhận về trình độ đã đạt được ở từng môn sau một kỳ thi" [31, tr. Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn năm 2006: Chứng chỉ hành nghề: Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hội nghề nghiệp cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật để hoạt động trong một ngành, nghề nhất định nào đó.
Tùy thuộc tính chất của ngành nghề và nhu cầu quản lý, Nhà nước xác định cụ thể những ngành nghề mà người hoạt động trong ngành, nghề ấy phải có chứng chỉ hành nghề. Thông thường những ngành, nghề kinh doanh cần có chứng chỉ hành nghề là 10 những ngành, nghề mà việc tiến hành hoạt động kinh doanh trong các ngành, nghề ấy có liên quan mật thiết đến lợi ích công cộng. Hiện nay, ở Việt Nam, các ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề bao gồm: dịch vụ pháp lý, dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm; dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y; dịch vụ thiết kế công trình; dịch vụ kiểm toán; dịch vụ môi giới chứng khoán; sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, mua bán thuốc bảo vệ thực vật; dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải; mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề theo quy định phải có chứng chỉ hành nghề; đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần thì một trong những người quản lý, điều hành doanh nghiệp phải có chứng chỉ đó.
Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh phải có chứng chỉ hành nghề. Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp hoặc giám đốc quản lý doanh nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề. Người có chứng chỉ hành nghề chỉ được đăng ký trong hồ sơ đăng ký kinh doanh của một cơ sở kinh doanh và chịu trách nhiệm về việc tuân thủ đúng các quy định về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh của cơ sở đó [30, tr. Như vậy, chứng chỉ hành nghề có một số đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, chứng chỉ hành nghề là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hội nghề nghiệp cấp cho cá nhân.
Có nghĩa là chứng chỉ hành nghề được cấp cho cá nhân mà không cấp cho tổ chức, hộ gia đình. Hai là, giá trị pháp lý của chứng chỉ hành nghề là văn bản cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật để hoạt động trong một ngành, nghề nhất định nào đó. Điều này có nghĩa là chứng chỉ hành nghề không phải là một "giấy chứng nhận" về 11 trình độ chuyên môn của người hành nghề. Bởi lẽ, chứng chỉ hành nghề chỉ được cấp cho những người đã qua đào tạo ở các cơ sở đào tạo quốc gia (trường trung cấp, cao đẳng, dạy nghề, đại học, sau đại học) và cả những người đã hành nghề lâu năm, không có vi phạm pháp luật.
Do đó, bằng tốt nghiệp của các cơ sở đào tạo (trừ trường hợp bằng giả và bằng thật nhưng học giả) và quá trình công tác mới là chứng chỉ xác nhận trình độ chuyên môn của người hành nghề. Chứng chỉ hành nghề chỉ là một trong những công cụ để quản lý, giám sát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề [26]. Ba là, chứng chỉ hành nghề cũng là công cụ để người hành nghề phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật những thông tin mới về tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hành nghề của mình. Một người đã qua đào tạo và được cấp bằng, sau thời gian thử việc phải đến hội nghề nghiệp xin gia nhập hội và được hội cấp chứng chỉ hành nghề.
Chứng chỉ hành nghề đó là một trong những điều kiện không thể thiếu để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức ký hợp đồng lao động chính thức. Bốn là, chứng chỉ hành nghề thường có thời hạn ngắn từ 1-3 năm tùy theo thâm niên của người hành nghề. Người được cấp chứng chỉ hành nghề phải tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp và hàng năm phải tham gia lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật thông tin mới trong lĩnh vực hành nghề. Nếu vi phạm một trong những quy định đó có thể bị thu hồi chứng chỉ hành nghề hoặc không được cấp lại và sẽ không được tiếp tục hành nghề.
Quan niệm về chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng Thuật ngữ "chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng" được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về xây dựng ở nước ta. Luật xây dựng năm 2014 đưa ra giải thích về chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng như sau: "Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là văn bản xác nhận năng lực hành nghề, do cơ quan có thẩm quyền cấp cho cá nhân quy 12 định tại khoản 3 Điều 148 của Luật này có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về lĩnh vực hành nghề" [23, Khoản 1 Điều 149]. Bên cạnh các đặc điểm chung của chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng còn có một số đặc điểm đặc thù chủ yếu sau đây: Một là, chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là văn bản cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng. Hai là, chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được phân cấp thẩm quyền cấp theo các hạng; cụ thể: đối với cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng từ 07 năm trở lên thì chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng do Cục Quản lý hoạt động xây dựng - Bộ Xây dựng cấp (Đây được gọi là chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I).
Đối với cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng từ 07 năm trở xuống thì chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng do Sở Xây dựng hoặc Hiệp hội xây dựng cấp (đây được gọi là chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng II và hạng III). Ba là, chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng có thời hạn sử dụng trong vòng 05 năm. Hết thời hạn này, cá nhân có chứng chỉ hành nghề phải đến cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng làm thủ tục xin gia hạn và tham dự kỳ kiểm tra sát hạch. Ngân hàng đề kiểm tra sát hạch do Bộ Xây dựng xây dựng, quản lý và công bố công khai trên cổng thông tin điện tử của Cục Quản lý hoạt động xây dựng.
Ý nghĩa của cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng Thứ nhất, về khía cạnh kinh tế. Việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng mang lại hiệu quả kinh tế biểu hiện trên một số khía cạnh cụ thể sau: Một là, việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng góp phần động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu phí đối với cá nhân được cấp loại chứng chỉ này. 13 Hai là, cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là một trong những điều kiện để doanh nghiệp, công ty xây dựng ký kết hợp đồng lao động. Thông qua đó, họ có cơ hội làm việc để có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình.
Ba là, hoạt động xây dựng là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Do tính chất đặc thù và ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, tài sản của con người, Nhà nước, xã hội nên pháp luật đòi hỏi cá nhân hành nghề xây dựng hoặc nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp, công ty xây dựng phải có kinh nghiệm chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp để tạo ra các sản phẩm xây dựng có chất lượng, bền vững đảm bảo an toàn cho người sử dụng, đáp ứng yêu cầu, thị hiếu của người sử dụng về mặt thẩm mỹ, kiến trúc, phong phú, đa dạng về mẫu mã, chủng loại v. Điều này có những tác động nhất định đến doanh thu, đến tiến độ bán các sản phẩm xây dựng và vòng quay của đồng vốn đầu tư của các doanh nghiệp, công ty xây dựng. Thứ hai, về khía cạnh chính trị - xã hội.
Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng mang ý nghĩa về chính trị - xã hội biểu hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây: Một là, như phần trên đã đề cập, cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là một trong những điều kiện để doanh nghiệp, công ty xây dựng ký kết hợp đồng lao động. Thông qua đó, họ có cơ hội làm việc để có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Như vậy, việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tạo điều kiện để cá nhân, người lao động tìm được việc làm trong các doanh nghiệp, công ty xây dựng. Trên cơ sở đó, một bộ phận cá nhân trong xã hội đến độ tuổi lao động tiếp cận được việc làm trong lĩnh vực xây dựng.
Hơn nữa, lĩnh vực này cần sử dụng một lực lượng lao động rất lớn có tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp. Muốn vậy, việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được coi như là "một giấy thông hành" để người lao động có thể được làm việc trong lĩnh vực xây dựng. 14 Hai là, cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là một nội dung quản lý nhà nước về xây dựng.