Luận văn: Quản lý nhà nước lĩnh vực dạy nghề tại Việt Nam - ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về dạy nghề tại Việt Nam. Nghiên cứu chuyên sâu, phân tích thực trạng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2007

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Các chữ viết tắt trong luận văn

Danh mục các bảng, biểu, sơ đồ

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: QLNN TRONG LĨNH VỰC DN - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Khái niệm, các nhân tố tác động và đặc điểm về dạy nghề

1.2. Vị trí và vai trò của dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân và trong đời sống xã hội

1.3. QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

1.3.1. Khái niệm QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

1.3.2. Sự cần thiết và nội dung QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

1.4. Kinh nghiệm của một số nước về quản lý trong lĩnh vực dạy nghề và khả năng áp dụng vào Việt Nam

1.4.1. Kinh nghiệm của một số nƣớc khu vực ASEAN

1.4.2. Kinh nghiệm của các nƣớc Đông Bắc Á

1.4.3. Kinh nghiệm của một số nƣớc phát triển Âu- Mỹ

1.4.4. Khả năng vận dụng kinh nghiệm của các nƣớc vào Việt Nam

1.5. Tóm tắt chương 1

2. Chương 2: QLNN TRONG LĨNH VỰC DN Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

2.1. Thực trạng và những đặc điểm cơ bản về DN ở Việt Nam

2.2. Về cơ quan QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

2.3. Về mạng lƣới, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề

2.4. Về quy mô, chất lƣợng và các hình thức dạy nghề

2.5. Tình hình QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam thời gian qua

2.5.1. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các VBQPPL; chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển DN

2.5.2. Tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo và bồi dƣỡng cán bộ giáo viên trong lĩnh vực dạy nghề

2.5.3. Tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lƣợng DN và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

2.5.4. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phát triển DN; tổ chức, chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng KHCN và HTQT trong lĩnh vực DN

2.5.5. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực DN

2.6. Đánh giá công tác QLNN trong lĩnh vực DN thời gian qua

2.6.1. Kết quả đạt đƣợc và nguyên nhân

2.6.2. Những hạn chế và nguyên nhân

2.7. Tóm tắt chương 2

3. Chương 3: ĐỊNH HƢỚNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QLNN TRONG LĨNH VỰC DN Ở VIỆT NAM

3.1. Định hướng và quan điểm tăng cường QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam

3.1.1. Bối cảnh mới về DN và QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam

3.1.2. Mục tiêu DN từ nay đến năm 2010 và định hƣớng đến 2020

3.1.3. Quan điểm tăng cƣờng QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam

3.2. Giải pháp tăng cường QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

3.2.1. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, pháp luật, lập quy hoạch, kế hoạch và chiến lƣợc trong lĩnh vực DN

3.2.2. Đổi mới cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực bộ máy QLNN trong lĩnh vực DN

3.2.3. Tăng cƣờng và bảo đảm các điều kiện để phát triển DN

3.3. Tóm tắt chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước trong dạy nghề tại Việt Nam

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề là một yếu tố then chốt, quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt sau khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vai trò của dạy nghề càng trở nên quan trọng. Dạy nghề không chỉ là một phân hệ trong hệ thống giáo dục quốc dân mà còn là nền tảng cung cấp đội ngũ lao động kỹ thuật có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hoạt động quản lý nhà nước trong dạy nghề bao gồm việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch và chính sách nhằm phát triển toàn diện lĩnh vực này. Mục tiêu chính là tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi, đồng bộ để các cơ sở dạy nghề hoạt động hiệu quả, đồng thời đảm bảo chất lượng đào tạo theo kịp trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Sự cần thiết của công tác quản lý này đến từ đặc thù của hoạt động dạy nghề – một lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, có ảnh hưởng lâu dài đến xã hội và gắn liền với các vấn đề an sinh như việc làm, thu nhập của người lao động. Nếu không có sự điều tiết của nhà nước, thị trường dạy nghề có thể phát sinh những tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh, chất lượng đào tạo không đảm bảo, gây lãng phí nguồn lực xã hội. Do đó, việc tăng cường quản lý nhà nước trong dạy nghề ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết, nhằm định hướng phát triển, đảm bảo công bằng xã hội và nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển con người.

1.1. Vị trí và vai trò của dạy nghề trong hệ thống giáo dục

Theo quy định của Luật Giáo dục 2005, dạy nghề là một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí song hành cùng giáo dục phổ thông và giáo dục đại học. Chức năng chính của dạy nghề là đào tạo trực tiếp nguồn nhân lực kỹ thuật cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Khác với đào tạo hàn lâm, dạy nghề tập trung trang bị kiến thức thực tiễn, kỹ năng thực hành và tác phong công nghiệp cho người học. Mục tiêu của dạy nghề là giúp người học sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm được việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên các trình độ cao hơn. Sơ đồ 1.1 trong luận văn gốc cho thấy một hệ thống liên thông, mở, nơi học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông có thể lựa chọn theo học các trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề, sau đó gia nhập thị trường lao động hoặc liên thông lên các bậc học cao hơn. Vị trí này cho thấy dạy nghề là một con đường phát triển sự nghiệp quan trọng, góp phần phân luồng học sinh sau phổ thông, giảm áp lực cho giáo dục đại học và đáp ứng trực tiếp nhu cầu đa dạng của nền kinh tế.

1.2. Khái niệm và sự cần thiết của QLNN về lĩnh vực dạy nghề

Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề (QLNN về dạy nghề) được định nghĩa là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thực thi quyền lực công để điều hành, điều chỉnh các hoạt động dạy và học nghề trên toàn quốc. Theo tác giả Bùi Đức Tùng, đây là quản lý theo ngành, tập trung vào việc "xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực dạy nghề". Sự cần thiết của QLNN xuất phát từ ba lý do chính. Thứ nhất, đầu tư cho dạy nghề là đầu tư cho phát triển con người, cần sự định hướng vĩ mô để tránh dàn trải, lãng phí và đảm bảo hiệu quả xã hội. Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, cần có sự can thiệp của nhà nước để hạn chế các hiện tượng tiêu cực như chạy theo lợi nhuận, bỏ qua chất lượng, tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Thứ ba, quá trình đổi mới dạy nghề vẫn còn chịu ảnh hưởng của cơ chế bao cấp, do đó cần có vai trò của nhà nước để thúc đẩy sự thay đổi, đề ra các chính sách vĩ mô phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế.

II. Phân tích thực trạng và thách thức QLNN về dạy nghề

Thực trạng quản lý nhà nước trong dạy nghề ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1998 đến nay đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, thách thức. Về mặt tích cực, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã dần được hình thành, tiêu biểu là sự ra đời của Luật Dạy nghề năm 2006, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động dạy nghề. Mạng lưới cơ sở dạy nghề được mở rộng trên cả nước, bao gồm trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, và trung tâm dạy nghề, góp phần tăng quy mô đào tạo. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đã tăng từ 10% năm 1995 lên 20% vào năm 2006. Tuy nhiên, công tác QLNN trong lĩnh vực dạy nghề vẫn còn nhiều bất cập. Bộ máy quản lý còn cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến chồng chéo, thiếu hiệu quả. Cơ sở vật chất, trang thiết bị tại nhiều trường còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ sản xuất hiện đại. Đặc biệt, chất lượng dạy nghề là vấn đề nhức nhối nhất. Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, thiếu gắn kết với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, khiến nhiều học viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu công việc. Công tác kiểm định chất lượng và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia còn chậm được triển khai. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của dạy nghề, cơ chế chính sách chưa đủ mạnh để thu hút các nguồn lực xã hội, và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý còn hạn chế.

2.1. Đánh giá bộ máy và cơ sở vật chất các cơ sở dạy nghề

Về bộ máy quản lý, từ năm 1998, chức năng QLNN về dạy nghề được chuyển từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, với Tổng cục Dạy nghề là cơ quan tham mưu chính. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa trung ương và địa phương, giữa ngành lao động và các bộ, ngành khác còn chưa đồng bộ. Về mạng lưới, tính đến cuối năm 2006, cả nước có 276 trường dạy nghề và 225 trung tâm dạy nghề (Bảng 2.1), nhưng phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Cơ sở vật chất và trang thiết bị là một điểm yếu lớn. Nhiều cơ sở được xây dựng từ lâu, đã xuống cấp, máy móc thực hành lạc hậu so với công nghệ mà doanh nghiệp đang sử dụng. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng rèn luyện kỹ năng thực tế của học viên, tạo ra khoảng cách lớn giữa đào tạo và sử dụng lao động.

2.2. Những hạn chế trong công tác quản lý chất lượng đào tạo

Chất lượng dạy nghề là thách thức lớn nhất đối với công tác QLNN. Quy mô đào tạo tăng nhưng chất lượng chưa tương xứng. Nội dung, chương trình đào tạo chậm đổi mới, chưa bám sát nhu cầu của thị trường lao động và sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng "đào tạo những gì nhà trường có, chứ không phải những gì doanh nghiệp cần". Công tác kiểm định chất lượng dạy nghề và xây dựng hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia mới ở giai đoạn bắt đầu, chưa có tác động rõ rệt đến việc nâng cao chất lượng. Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng là một vấn đề, khi nhiều giáo viên thiếu kinh nghiệm thực tế sản xuất (Biểu 2.2 và 2.3). Đây là những rào cản chính khiến chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

III. Hướng dẫn đổi mới cơ chế chính sách và pháp luật dạy nghề

Để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong dạy nghề, giải pháp nền tảng là tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật. Đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo ra một khung khổ pháp lý đồng bộ, tiến bộ và khả thi, thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực dạy nghề. Việc đổi mới phải bắt đầu từ việc rà soát, sửa đổi và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đặc biệt là các văn bản dưới luật, để khắc phục những bất cập, chồng chéo và đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Một chính sách phát triển dạy nghề hiệu quả cần định hướng rõ ràng vào việc đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Điều này đòi hỏi phải xây dựng các cơ chế khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo, từ việc xây dựng chương trình, tham gia giảng dạy đến việc tiếp nhận học viên thực tập và tuyển dụng. Bên cạnh đó, cần có các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng để thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước vào lĩnh vực dạy nghề, thực hiện hiệu quả chủ trương xã hội hoá dạy nghề. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, xây dựng các tiêu chuẩn nghề quốc gia, tổ chức hệ thống kiểm định chất lượng độc lập và minh bạch. Đồng thời, việc xây dựng và thực thi các chiến lược, quy hoạch phát triển dạy nghề cấp quốc gia và cấp vùng một cách khoa học, dựa trên dự báo nhu cầu nhân lực chính xác, sẽ giúp tránh được tình trạng đầu tư dàn trải và đào tạo mất cân đối giữa các ngành nghề, vùng miền.

3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật VBQPPL

Việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là ưu tiên hàng đầu. Cần sớm ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết Luật Dạy nghề, tập trung vào các vấn đề như: tiêu chuẩn thành lập cơ sở dạy nghề, quy chế tuyển sinh và thi tốt nghiệp, tiêu chuẩn giáo viên, quy trình kiểm định chất lượng, và cơ chế tài chính. Pháp luật cần quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động đào tạo nghề. Cần thể chế hóa các chính sách xã hội hóa, tạo điều kiện bình đẳng giữa các cơ sở dạy nghề công lập và ngoài công lập trong việc tiếp cận các nguồn lực của nhà nước. Hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ tạo ra môi trường minh bạch, công bằng, là tiền đề để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề.

3.2. Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

Nhà nước cần đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng chiến lược phát triển dạy nghề dài hạn, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Chiến lược này phải dựa trên công tác dự báo khoa học về nhu cầu nhân lực của các ngành kinh tế mũi nhọn và các vùng kinh tế trọng điểm. Trên cơ sở chiến lược, cần xây dựng các quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề hợp lý, tránh tình trạng tập trung quá nhiều ở đô thị và bỏ trống khu vực nông thôn, miền núi. Quy hoạch phát triển dạy nghề cũng cần xác định các ngành nghề ưu tiên đầu tư, xây dựng một số trường nghề chất lượng cao đạt chuẩn khu vực và quốc tế, làm đầu tàu cho toàn hệ thống.

IV. Phương pháp nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước

Song song với việc hoàn thiện thể chế, một giải pháp đột phá khác là đổi mới cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực cho bộ máy quản lý nhà nước về dạy nghề. Một bộ máy tinh gọn, hiệu quả, được phân cấp, phân quyền rõ ràng là điều kiện tiên quyết để thực thi thành công các chính sách. Quá trình đổi mới cần tập trung vào việc xác định lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương, khắc phục tình trạng chồng chéo và bỏ sót nhiệm vụ. Cụ thể, cơ quan quản lý trung ương (Tổng cục Dạy nghề) nên tập trung vào nhiệm vụ xây dựng chiến lược, ban hành chính sách, tiêu chuẩn và tổ chức công tác thanh tra, kiểm định. Trách nhiệm quản lý trực tiếp các cơ sở dạy nghề nên được phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương và tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các nhà trường. Yếu tố con người là cốt lõi, do đó, cần đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề. Cán bộ quản lý cần được trang bị kiến thức về quản lý công, kinh tế thị trường và kỹ năng hoạch định chính sách. Đội ngũ giáo viên cần được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm và thường xuyên được cập nhật kiến thức, công nghệ mới thông qua các khóa bồi dưỡng và đi thực tế tại doanh nghiệp. Nâng cao năng lực bộ máy QLNN là giải pháp then chốt để chuyển từ quản lý hành chính, bao cấp sang quản lý theo mục tiêu chất lượng và hiệu quả.

4.1. Tái cơ cấu tổ chức và tăng cường phân cấp quản lý

Việc tái cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý cần theo hướng tinh gọn, giảm bớt các tầng nấc trung gian. Cần xác định rõ vai trò của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ về QLNN trong lĩnh vực dạy nghề. Đồng thời, tăng cường phân cấp quản lý cho các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ở địa phương. Các địa phương sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc quy hoạch mạng lưới, quản lý hoạt động và giám sát chất lượng các cơ sở dạy nghề trên địa bàn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mình. Trao quyền tự chủ lớn hơn cho các trường về học thuật, tổ chức, nhân sự và tài chính sẽ tạo động lực để các trường năng động, sáng tạo và gắn kết hơn với thị trường.

4.2. Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề

Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Cần xây dựng kế hoạch tổng thể về đào tạo, bồi dưỡng. Đối với cán bộ quản lý, cần tổ chức các khóa học cập nhật kiến thức về quản trị giáo dục hiện đại, kỹ năng phân tích chính sách và kinh nghiệm quốc tế. Đối với giáo viên, cần có chính sách khuyến khích họ tham gia các chương trình đào tạo nâng cao trình độ, đặc biệt là các khóa tu nghiệp tại doanh nghiệp để nắm bắt công nghệ và quy trình sản xuất thực tế. Nhà nước cần ban hành các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho giáo viên dạy nghề và có chế độ đãi ngộ xứng đáng để thu hút và giữ chân những người giỏi tham gia vào hệ thống dạy nghề.

V. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dạy nghề và bài học

Kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực quản lý dạy nghề là nguồn tham khảo quý giá cho Việt Nam trong quá trình đổi mới. Nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng thành công các mô hình dạy nghề hiệu quả, gắn liền với sự phát triển kinh tế. Một trong những mô hình nổi bật nhất là "hệ thống kép" của Đức, nơi việc đào tạo được thực hiện song song tại doanh nghiệp và trường dạy nghề. Mô hình này đảm bảo học viên được trang bị cả lý thuyết vững chắc và kỹ năng thực hành chuyên sâu, đáp ứng chính xác yêu cầu của nhà tuyển dụng. Tại các nước Đông Bắc Á như Nhật Bản và Hàn Quốc, vai trò của doanh nghiệp trong đào tạo nghề cũng rất lớn. Các công ty không chỉ tham gia đóng góp tài chính mà còn trực tiếp tổ chức các khóa đào tạo tại chỗ, xây dựng văn hóa học tập suốt đời cho người lao động. Chính phủ các nước này đóng vai trò kiến tạo thông qua việc ban hành các chuẩn nghề quốc gia, hỗ trợ tài chính và khuyến khích sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Các nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Malaysia cũng chú trọng xã hội hóa dạy nghề, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này. Bài học rút ra cho Việt Nam là cần tăng cường mạnh mẽ hơn nữa sự tham gia của doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là chủ thể trung tâm của hoạt động dạy nghề. Việc học hỏi, vận dụng một cách sáng tạo các mô hình thành công trên thế giới sẽ giúp Việt Nam đi nhanh hơn trong việc nâng cao chất lượng dạy nghề, đáp ứng yêu cầu hội nhập.

5.1. Mô hình quản lý dạy nghề tại ASEAN và Đông Bắc Á

Kinh nghiệm của các nước láng giềng cho thấy nhiều điểm tương đồng mà Việt Nam có thể học hỏi. Malaysia thành công với Quỹ Phát triển Nguồn nhân lực (HDRF), yêu cầu doanh nghiệp đóng góp 1% quỹ lương để tài trợ cho đào tạo. Hàn Quốc và Trung Quốc đều nhấn mạnh việc phân cấp quản lý mạnh mẽ cho địa phương và xây dựng hệ thống đào tạo liên thông giữa các cấp trình độ. Đặc biệt, Nhật Bản rất thành công với mô hình đào tạo tại công ty, nơi người lao động được đào tạo kỹ năng và cả văn hóa doanh nghiệp, tạo sự gắn bó lâu dài. Những mô hình này đều có chung đặc điểm là đề cao vai trò của thị trường và doanh nghiệp, trong khi nhà nước tập trung vào việc tạo dựng hành lang pháp lý và tiêu chuẩn chất lượng.

5.2. Khả năng vận dụng kinh nghiệm quốc tế vào Việt Nam

Việt Nam có thể vận dụng kinh nghiệm quốc tế một cách chọn lọc. Mô hình "hệ thống kép" của Đức có thể được thí điểm tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi có sự tập trung cao của doanh nghiệp. Việc thành lập quỹ phát triển kỹ năng nghề quốc gia theo mô hình của Malaysia là một giải pháp khả thi để huy động nguồn lực tài chính từ doanh nghiệp. Quan trọng nhất là phải thay đổi tư duy trong quản lý nhà nước, chuyển từ việc trực tiếp làm sang tạo cơ chế, chính sách để khuyến khích các bên liên quan, đặc biệt là khu vực tư nhân và doanh nghiệp, cùng tham gia vào sự nghiệp phát triển dạy nghề ở Việt Nam. Xây dựng một hội đồng kỹ năng nghề quốc gia với sự tham gia của đại diện chính phủ, doanh nghiệp và các hiệp hội nghề nghiệp là cần thiết để đảm bảo chương trình đào tạo luôn bắt kịp xu thế của thị trường.

VI. Định hướng tăng cường QLNN về dạy nghề đến năm 2020

Trong bối cảnh mới của hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, định hướng tăng cường quản lý nhà nước trong dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020 cần tập trung vào việc tạo ra những chuyển biến căn bản về chất lượng. Mục tiêu tổng quát là xây dựng một hệ thống dạy nghề hiện đại, linh hoạt, hiệu quả, có khả năng tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quan điểm chỉ đạo là phải xem đầu tư cho dạy nghề là đầu tư cho phát triển. Nhà nước cần tăng cường đầu tư từ ngân sách, đồng thời ban hành các chính sách đột phá để huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội. Cần thực hiện nhất quán nguyên tắc đào tạo gắn với nhu cầu của thị trường lao động, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Mọi hoạt động quản lý cần hướng tới việc nâng cao chất lượng và hiệu quả, đảm bảo người học nghề sau khi tốt nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh và có việc làm với thu nhập ổn định. Để thực hiện mục tiêu này, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ, từ hoàn thiện thể chế, chính sách, đổi mới bộ máy quản lý, đến việc tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng như cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, và đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Tương lai của ngành dạy nghề phụ thuộc rất lớn vào quyết tâm chính trị và hiệu quả của công tác QLNN trong lĩnh vực dạy nghề trong giai đoạn sắp tới.

6.1. Mục tiêu và quan điểm phát triển trong bối cảnh mới

Mục tiêu cụ thể đến năm 2010 và định hướng đến 2020, theo Nghị quyết Đại hội Đảng, là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên mức cao hơn đáng kể, góp phần thay đổi cơ cấu lao động. Quan điểm cốt lõi là phải đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống dạy nghề. Quá trình quản lý nhà nước phải chuyển mạnh từ cơ chế hành chính sang cơ chế thị trường có sự điều tiết, tăng cường vai trò kiến tạo của nhà nước và phát huy vai trò chủ động của các cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp. Phát triển dạy nghề phải được coi là trách nhiệm của toàn xã hội, không chỉ riêng của nhà nước.

6.2. Triển vọng và các giải pháp phát triển dạy nghề bền vững

Triển vọng phát triển của ngành dạy nghề Việt Nam là rất lớn, do nhu cầu về lao động kỹ thuật ngày càng tăng cao. Để biến triển vọng thành hiện thực, cần tập trung vào các giải pháp bền vững. Thứ nhất, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp thu công nghệ đào tạo tiên tiến và tranh thủ các nguồn hỗ trợ kỹ thuật, tài chính. Thứ hai, xây dựng một hệ thống thông tin và dự báo thị trường lao động hiệu quả để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và xây dựng chương trình đào tạo. Thứ ba, phát triển hệ thống kiểm định chất lượng độc lập, minh bạch và xây dựng các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia tương thích với tiêu chuẩn khu vực. Đây là những nền tảng để đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao vị thế của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam.

25/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC DẠY NGHỀ – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm, đặc điểm và các nhân tố tác động đến dạy nghề 1. Khái niệm dạy nghề: Trong nghiên cứu, một số công trình khoa học đã đƣa ra quan niệm, khái niệm liên quan đến dạy nghề: - Theo Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc đƣợc áp dụng với ngƣời lao động và những đối tƣợng sắp trở thành ngƣời lao động. Đào tạo nghề đƣợc thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, các trƣờng dạy nghề, các lớp học không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cƣờng cơ hội việc làm và cải thiện địa vị ngƣời lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế-xã hội [59, tr.

- Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đƣa ra khái niệm: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp đƣợc giao [59, tr. - Theo Điều 5, Luật Dạy nghề đƣợc Quốc hội khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, thì “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. Từ các quan niệm, khái niệm nêu trên, theo cách tiếp cận của luận văn, khái niệm dạy nghề đƣợc hiểu nhƣ sau: Dạy nghề là hoạt động dạy và học tại nơi làm việc, các cơ sở dạy nghề, trung 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tâm đào tạo, các lớp học không chính quy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Đặc điểm về dạy nghề: Dạy nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau : - Dạy nghề gắn chặt với với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trƣờng.

Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, có năng lực thực hành nghề tƣơng xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để ngƣời học trở thành ngƣời lao động trong các doanh nghiệp. - Nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp giảng dạy trong dạy nghề cũng có những nét riêng. Đây là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, đòi hỏi ngƣời học phải đạt trình độ kỹ năng nghề, có hiểu biết cần thiết và phù hợp để làm đƣợc những công việc phức tạp ở mức độ nhất định, nhất là về kỹ thuật và công nghệ; đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thực tế sản xuất kinh doanh.

Chính vì vậy, tỷ lệ thực hành trong dạy nghề thƣờng chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90-100%. - Đối tƣợng học nghề là những ngƣời đã trƣởng thành, thậm chí đã lớn tuổi. - Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: + Dạy nghề dài hạn: đào tạo đội ngũ công nhân, nhân viên kỹ thuật một cách bài bản, theo chƣơng trình chuẩn, thời gian đào tạo 1-3 năm, tuỳ theo đặc điểm, độ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phức tạp của nghề, hoàn thành khoá học đƣợc cấp bằng nghề với hai trình độ cơ bản là trung cấp nghề và cao đẳng nghề. + Dạy nghề ngắn hạn: Đào tạo cho ngƣời học nghề theo chƣơng trình ngắn hạn, thời gian dƣới 1 năm, hoàn thành khoá học đƣợc cấp chứng chỉ nghề, trình độ đào tạo là sơ cấp nghề.

+ Dạy nghề theo modul: Dạy nghề theo một kỹ năng nhất định, ngƣời học có thể bổ sung kiến thức và kỹ năng dần theo từng modul. + Dạy nghề kèm cặp: Dạy nghề ngay trong quá trình sản xuất, ngƣời học vừa học vừa làm dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của những ngƣời có kinh nghiệm, kỹ năng hơn mình. + Dạy nghề lƣu động: Cơ sở dạy nghề mang thiết bị, tài liệu hƣớng dẫn và giáo viên đến trực tiếp nơi có đông ngƣời học để giảng dạy (chủ yếu áp dụng trong dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn). Các nhân tố tác động tới dạy nghề Thứ nhất, nhân tố khoa học – công nghệ: Bƣớc vào thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với những bƣớc tiến nhảy vọt, trở thành động lực, đầu tàu của sự phát triển kinh tế xã hội, kéo theo những biến đổi đột biến, mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời đại xã hội loài ngƣời đang chuyển sang nền kinh tế tri thức.

Cách mạng khoa học đƣa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin, trong đó các ngành sản xuất, dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ. Khoảng cách giữa phát minh khoa học, công nghệ và áp dụng vào thực tế ngày càng thu hẹp. Cách mạng khoa học công nghệ làm cho nhiều ngành, nghề cũ mất đi và cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới; cơ cấu ngành, nghề và tỷ trọng của nó trong các lĩnh vực kinh tế cũng thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ. Trong điều kiện mới, sự phát triển 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn lực con ngƣời là chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất nhƣ trƣớc đây.

Tỷ trọng lao động trực tiếp giảm mạnh, lao động gián tiếp và dịch vụ tăng nhanh, xuất hiện và gia tăng nhanh chóng công nhân trí thức. Từ đó, các quốc gia muốn phát triển phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tƣ hƣớng vào phát triển vốn con ngƣời nhằm làm cho nguồn nhân lực nhanh chóng đƣợc tri thức hoá, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thích nghi cao, thích ứng kịp thời với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất, kinh doanh. Việt Nam là quốc gia đang phát triển ở trình độ thấp nhƣng yếu tố khoa học – công nghệ đang tác động mạnh đến dạy nghề, nhất là khi chúng ta phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao, sản xuất các mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nếu chúng ta không tập trung vào dạy nghề sẽ dẫn đến hậu quả không đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật lành nghề cung ứng cho nền kinh tế quốc dân.

Thứ hai, xu hƣớng toàn cầu hoá và hội nhập: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế tác động mạnh đến dạy nghề theo hai hƣớng cơ bản là đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của quốc gia trong quá trình hội nhập và bảo đảm nguồn lao động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của công nghệ mới, công nghệ cao do có sự tiếp nhận vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Ở hƣớng thứ nhất, trong nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và cấp quốc gia, thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động kỹ thuật trình độ cao, có khả năng tiếp thu nhanh, sáng tạo và làm chủ công nghệ, khả năng chuyển đổi nghề linh hoạt; tính chịu trách nhiệm, khả năng nắm bắt và giao tiếp khách hàng; khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trƣờng văn hoá đa dân tộc, tôn giáo. là những yếu tố có tính chất quyết định. Đó là những yêu cầu mới về chuẩn mực 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất lƣợng nguồn lao động kỹ thuật bảo đảm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập.

Hƣớng thứ hai rất quan trọng tác động đến dạy nghề là đáp ứng yêu cầu lao động kỹ thuật của thị trƣờng lao động trong nƣớc và quốc tế. Việt Nam trong xu thế hội nhập có nhiều cơ hội tạo việc làm mới trong các khu vực: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI); doanh nghiệp sản xuất và gia công hàng xuất khẩu với công nghệ sử dụng nhiều lao động; xuất khẩu lao động và chuyên gia. Khu vực doanh nghiệp FDI đƣợc khuyến khích phát triển là hƣớng quan trọng để tăng trƣởng kinh tế trên cơ sở hình thành các KCN-KCX, các vùng kinh tế trọng điểm. Đây là khu vực đầu tƣ theo chiều sâu, áp dụng công nghệ mới, sử dụng nhiều vốn với hệ số co giãn việc làm thấp (thƣờng từ 0,1 –0,2%) nhƣng có yêu cầu lao động trình độ cao và xuất hiện nhiều ngành nghề mới mà nền kinh tế truyền thống trong nƣớc chƣa có, liên quan đến sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông, vận hành thiết bị tự động hoá, lắp ráp xe máy, ô tô, điện tử, sửa chữa thiết bị chuyên dùng đặc chủng… Có thể nói, khu vực FDI có nhu cầu sử dụng lao động ở các ngành nghề mới và trình độ cao, nhất là công nhân kỹ thuật lành nghề, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo tiêu chuẩn quốc tế.

Do vậy, nhu cầu đào tạo cho ứng dụng công nghệ nhập khẩu và cung cấp cho các khu công nghệ cao sẽ ngày càng tăng, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật tƣơng ứng. Đối với khu vực sản xuất sản phẩm xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh nhƣ dệt may, giày da, chế biến thuỷ sản…, mặc dù công nghệ áp dụng là công nghệ sử dụng nhiều lao động, nhƣng cũng đòi hỏi phải đào tạo lao động kỹ thuật có chất lƣợng cao, nhằm giảm chi phí lao động, tăng năng suất và chất lƣợng sản phẩm phù hợp với từng thị trƣờng. Xuất khẩu lao động và chuyên gia cũng là hƣớng mũi nhọn tạo việc làm và tham gia vào thị trƣờng lao động quốc tế và khu vực của Việt Nam. Tuy nhiên, xu hƣớng xuất khẩu lao động trong thời gian tới sẽ chủ yếu là lao động có nghề và chuyên môn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kỹ thuật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ