Chương 1: QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC DẠY NGHỀ – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm, đặc điểm và các nhân tố tác động đến dạy nghề 1. Khái niệm dạy nghề: Trong nghiên cứu, một số công trình khoa học đã đƣa ra quan niệm, khái niệm liên quan đến dạy nghề: - Theo Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc đƣợc áp dụng với ngƣời lao động và những đối tƣợng sắp trở thành ngƣời lao động. Đào tạo nghề đƣợc thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, các trƣờng dạy nghề, các lớp học không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cƣờng cơ hội việc làm và cải thiện địa vị ngƣời lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế-xã hội [59, tr.
- Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đƣa ra khái niệm: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp đƣợc giao [59, tr. - Theo Điều 5, Luật Dạy nghề đƣợc Quốc hội khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, thì “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. Từ các quan niệm, khái niệm nêu trên, theo cách tiếp cận của luận văn, khái niệm dạy nghề đƣợc hiểu nhƣ sau: Dạy nghề là hoạt động dạy và học tại nơi làm việc, các cơ sở dạy nghề, trung 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tâm đào tạo, các lớp học không chính quy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Đặc điểm về dạy nghề: Dạy nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau : - Dạy nghề gắn chặt với với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trƣờng.
Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, có năng lực thực hành nghề tƣơng xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để ngƣời học trở thành ngƣời lao động trong các doanh nghiệp. - Nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp giảng dạy trong dạy nghề cũng có những nét riêng. Đây là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, đòi hỏi ngƣời học phải đạt trình độ kỹ năng nghề, có hiểu biết cần thiết và phù hợp để làm đƣợc những công việc phức tạp ở mức độ nhất định, nhất là về kỹ thuật và công nghệ; đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thực tế sản xuất kinh doanh.
Chính vì vậy, tỷ lệ thực hành trong dạy nghề thƣờng chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90-100%. - Đối tƣợng học nghề là những ngƣời đã trƣởng thành, thậm chí đã lớn tuổi. - Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: + Dạy nghề dài hạn: đào tạo đội ngũ công nhân, nhân viên kỹ thuật một cách bài bản, theo chƣơng trình chuẩn, thời gian đào tạo 1-3 năm, tuỳ theo đặc điểm, độ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phức tạp của nghề, hoàn thành khoá học đƣợc cấp bằng nghề với hai trình độ cơ bản là trung cấp nghề và cao đẳng nghề. + Dạy nghề ngắn hạn: Đào tạo cho ngƣời học nghề theo chƣơng trình ngắn hạn, thời gian dƣới 1 năm, hoàn thành khoá học đƣợc cấp chứng chỉ nghề, trình độ đào tạo là sơ cấp nghề.
+ Dạy nghề theo modul: Dạy nghề theo một kỹ năng nhất định, ngƣời học có thể bổ sung kiến thức và kỹ năng dần theo từng modul. + Dạy nghề kèm cặp: Dạy nghề ngay trong quá trình sản xuất, ngƣời học vừa học vừa làm dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của những ngƣời có kinh nghiệm, kỹ năng hơn mình. + Dạy nghề lƣu động: Cơ sở dạy nghề mang thiết bị, tài liệu hƣớng dẫn và giáo viên đến trực tiếp nơi có đông ngƣời học để giảng dạy (chủ yếu áp dụng trong dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn). Các nhân tố tác động tới dạy nghề Thứ nhất, nhân tố khoa học – công nghệ: Bƣớc vào thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với những bƣớc tiến nhảy vọt, trở thành động lực, đầu tàu của sự phát triển kinh tế xã hội, kéo theo những biến đổi đột biến, mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời đại xã hội loài ngƣời đang chuyển sang nền kinh tế tri thức.
Cách mạng khoa học đƣa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin, trong đó các ngành sản xuất, dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ. Khoảng cách giữa phát minh khoa học, công nghệ và áp dụng vào thực tế ngày càng thu hẹp. Cách mạng khoa học công nghệ làm cho nhiều ngành, nghề cũ mất đi và cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới; cơ cấu ngành, nghề và tỷ trọng của nó trong các lĩnh vực kinh tế cũng thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ. Trong điều kiện mới, sự phát triển 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn lực con ngƣời là chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất nhƣ trƣớc đây.
Tỷ trọng lao động trực tiếp giảm mạnh, lao động gián tiếp và dịch vụ tăng nhanh, xuất hiện và gia tăng nhanh chóng công nhân trí thức. Từ đó, các quốc gia muốn phát triển phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tƣ hƣớng vào phát triển vốn con ngƣời nhằm làm cho nguồn nhân lực nhanh chóng đƣợc tri thức hoá, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thích nghi cao, thích ứng kịp thời với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất, kinh doanh. Việt Nam là quốc gia đang phát triển ở trình độ thấp nhƣng yếu tố khoa học – công nghệ đang tác động mạnh đến dạy nghề, nhất là khi chúng ta phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao, sản xuất các mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nếu chúng ta không tập trung vào dạy nghề sẽ dẫn đến hậu quả không đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật lành nghề cung ứng cho nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, xu hƣớng toàn cầu hoá và hội nhập: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế tác động mạnh đến dạy nghề theo hai hƣớng cơ bản là đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của quốc gia trong quá trình hội nhập và bảo đảm nguồn lao động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của công nghệ mới, công nghệ cao do có sự tiếp nhận vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Ở hƣớng thứ nhất, trong nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và cấp quốc gia, thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động kỹ thuật trình độ cao, có khả năng tiếp thu nhanh, sáng tạo và làm chủ công nghệ, khả năng chuyển đổi nghề linh hoạt; tính chịu trách nhiệm, khả năng nắm bắt và giao tiếp khách hàng; khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trƣờng văn hoá đa dân tộc, tôn giáo. là những yếu tố có tính chất quyết định. Đó là những yêu cầu mới về chuẩn mực 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất lƣợng nguồn lao động kỹ thuật bảo đảm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
Hƣớng thứ hai rất quan trọng tác động đến dạy nghề là đáp ứng yêu cầu lao động kỹ thuật của thị trƣờng lao động trong nƣớc và quốc tế. Việt Nam trong xu thế hội nhập có nhiều cơ hội tạo việc làm mới trong các khu vực: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI); doanh nghiệp sản xuất và gia công hàng xuất khẩu với công nghệ sử dụng nhiều lao động; xuất khẩu lao động và chuyên gia. Khu vực doanh nghiệp FDI đƣợc khuyến khích phát triển là hƣớng quan trọng để tăng trƣởng kinh tế trên cơ sở hình thành các KCN-KCX, các vùng kinh tế trọng điểm. Đây là khu vực đầu tƣ theo chiều sâu, áp dụng công nghệ mới, sử dụng nhiều vốn với hệ số co giãn việc làm thấp (thƣờng từ 0,1 –0,2%) nhƣng có yêu cầu lao động trình độ cao và xuất hiện nhiều ngành nghề mới mà nền kinh tế truyền thống trong nƣớc chƣa có, liên quan đến sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông, vận hành thiết bị tự động hoá, lắp ráp xe máy, ô tô, điện tử, sửa chữa thiết bị chuyên dùng đặc chủng… Có thể nói, khu vực FDI có nhu cầu sử dụng lao động ở các ngành nghề mới và trình độ cao, nhất là công nhân kỹ thuật lành nghề, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo tiêu chuẩn quốc tế.
Do vậy, nhu cầu đào tạo cho ứng dụng công nghệ nhập khẩu và cung cấp cho các khu công nghệ cao sẽ ngày càng tăng, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật tƣơng ứng. Đối với khu vực sản xuất sản phẩm xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh nhƣ dệt may, giày da, chế biến thuỷ sản…, mặc dù công nghệ áp dụng là công nghệ sử dụng nhiều lao động, nhƣng cũng đòi hỏi phải đào tạo lao động kỹ thuật có chất lƣợng cao, nhằm giảm chi phí lao động, tăng năng suất và chất lƣợng sản phẩm phù hợp với từng thị trƣờng. Xuất khẩu lao động và chuyên gia cũng là hƣớng mũi nhọn tạo việc làm và tham gia vào thị trƣờng lao động quốc tế và khu vực của Việt Nam. Tuy nhiên, xu hƣớng xuất khẩu lao động trong thời gian tới sẽ chủ yếu là lao động có nghề và chuyên môn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kỹ thuật.