Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp Chương 2: Thực trạng về quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Chương 3: Phương hướng, giải pháp đảm bảo quản lý nhà nước về khu công nghiệp – Từ thực tiễn tỉnh Hà Nam. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về khu công nghiệp 1.
Khái niệm khu công nghiệp Dựa trên các cách tiếp cận khác nhau, mỗi quốc gia thường đưa ra các khái niệm khác nhau về khu công nghiệp tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, cũng như mục tiêu cần đạt tới khi xây dựng các khu công nghiệp. Trên thế giới loại hình Khu công nghiệp (KCN) đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay bắt đầu từ những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,… và hiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa. Tùy điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của KCN. Hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN, từ đó hình thành các quan niệm khác nhau về KCN.
Hiện nay, có quan niệm KCN là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh sống trong khu. Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ. KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu. Theo quan niệm khác thì KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các DN công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác Theo quan điểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia,….
đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nước ta đang áp dụng hiện nay. Ở nước ta, KCN đầu tiên được thành lập năm 1991 (KCX Tân Thuận – TP Hồ Chí Minh) cùng với quá trình 20 năm hình thành và phát triển cũng đã xuất hiện nhiều quy định, khái niệm khác nhau về KCN: - KCN, KCX hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986). Tiếp theo đó, Đại hội VII đã kịp thời đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toàn diện nền kinh tế, tiến hành công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước, được cụ thể hoá bằng Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000. Hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế – xã hội được triển khai để thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, trong đó có chính sách phát triển KCN, KCX với sự ra đời của KCX Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh (1991) và việc ban hành Quy chế KCX (Nghị định 322/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 18/10/1991) và Quy chế KCN (Nghị định 192/CP của Chính phủ ngày 28/12/1994).
Tiếp đó, định hướng chiến lược về quy hoạch phát triển và phân bố KCN, KCX được xác định cụ thể tại Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996): "Hình thành các khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả khu chế xuất và khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới. Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các khu công nghiệp mới xen lẫn với khu dân cư". Báo cáo Chính trị Đại hội IX (năm 2001) về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 tiếp tục khẳng định: "Quy hoạch phân bố hợp lý công 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp trên cả nước.
Phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và các khu kinh tế mở". Báo cáo chính trị tại Đại hội X (năm 2006) một lần nữa khẳng định chủ trương “Phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất”, đồng thời nhấn mạnh chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững KCN, KCX. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng XI (năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã định hướng phát triển KCN, KCX bền vững và theo chiều sâu: “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đặt ra mục tiêu đến năm 2020 “.tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung”.
- Về cơ sở pháp lý, hiện nay, mô hình KCN, KCX hoạt động theo quy định tại Luật đầu tư năm 2014, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, Nghị định số 114/2015/NĐ-CP ngày 9/11/2015 và pháp luật chuyên ngành về đất đai, thương mại, lao động, xây dựng, thuế và một số pháp luật khác có liên quan. Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể tại Điều 2 Quy chế khu công nghiệp (Ban hành kèm theo Nghị định số 192/NĐ-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/1/1995), các khu công nghiệp được hiểu là: “Khu công nghiệp quy định trong quy chế này là khu công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống.” Như vậy, bản thân định nghĩa đã bao hàm cả nội dung 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các đặc điểm của khu công nghiệp. Nghị định số 36 NĐ/CP, ngày 24/4/1997 của Chính phủ nhắc lại những nội dung đặc điểm này và nhấn mạnh cụ thể hơn về quyền cho phép thành lập là do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Luật Đầu tư được Quốc hội khóa 11, thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2006 định nghĩa: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [12].
Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế như sau: “Khu công nghiệp là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này” [7]. Từ các văn bản pháp quy qua các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước như đã nêu ở trên, có thể khái quát những tiêu chí cơ bản của một khu công nghiệp bao gồm: Một là, khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Hai là, có ranh giới địa lý xác định, phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp đã được phê duyệt. Ba là, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Bốn là, tổng diện tích đất công nghiệp các khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được phép cho các dự án đăng ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư thuê đất; thuê lại đất ít nhất là 60%. Mặc dù khái niệm về KCN qua từng thời kì được định nghĩa khác nhau, tuy nhiên đều thống nhất và có thể hiểu một cách tổng quát như sau: KCN là khu vực lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuật - xã hội đồng bộ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), nhà ở và các điều kiện sinh hoạt của người lao động và các tiêu chuẩn về môi trường; là nơi tập trung các DN hoạt động trong các lĩnh vực: sản xuất công nghiệp (SXCN), dịch vụ phục vụ SXCN (dịch vụ xuất nhập khẩu, hoạt động thương mại, tín dụng, ngân hàng, bưu chính viễn thông…); nằm trong danh mục quy hoạch tổng thể các KCN được Chính phủ phê duyệt, được cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư quyết định thành lập theo quy định của pháp luật về đầu tư và quy định về KCN của Chính phủ. Đặc điểm khu công nghiệp 1. Đặc điểm tự nhiên của khu công nghiệp Khu công nghiệp thường được xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi như gần các đường giao thông, thuận tiện trong giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng biển, sân bay.
Ngoài ra, các khu công nghiệp còn đòi hỏi phải có diện tích đất khá lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp cho xây dựng các công trình công nghiệp, gần nguồn nước, có cơ sở hạ tầng thích hợp. Do các đặc điểm này, nên quỹ đất xây dựng khu công nghiệp thường lấn chiếm quỹ đất nông nghiệp và đất đô thị. Khi các khu công nghiệp được xây dựng nhiều sẽ gây sức ép, thậm chí xung đột với nhu cầu đất của dân cư. Chính vì vậy, xây dựng các khu công nghiệp phải theo quy hoạch cân đối, hài hòa, hợp lý các khu đất giành cho sinh hoạt, cho nông, lâm nghiệp, thủy sản và cho các khu công nghiệp tập trung [4].