phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực công nghệ thông tin. Chƣơng II: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Nam Định. Chƣơng III: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Nam Định. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN. Công nghệ thông tin, đặc điểm và tác động của công nghệ thông tin đến phát triển kinh tế, xã hội. Khái niệm về công nghệ thông tin Công nghệ thông tin ngày nay đã và đang tạo đà cho những thay đổi cơ bản trong công tác quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả các ngành, lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về CNTT, chúng ta sẽ tìm hiểu một số khái niệm về CNTT có tính phổ biến.
Theo Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia (địa chỉ trên mạng Internet: http://vi.org/wiki/C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87_th%C3%B4ng _tin) thì CNTT là công nghệ ứng dụng cho việc xử lý thông tin. Liest Eathington và GS. Dave Swanson, Khoa Kinh tế học, Đại học Iowa, Hoa Kỳ, thì CNTT là một chuỗi sản phẩm và dịch vụ mà thông qua đó, việc biến đổi số liệu thành thông tin có thể tiếp cận đƣợc và trở nên có ích. Sản phẩm và dịch vụ CNTT này bảo đảm cho doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân có thể kiểm soát đƣợc các giao dịch kinh doanh hiệu quả hơn và nhanh hơn.
Phan Đình Diệu, “CNTT là ngành công nghệ về xử lý thông tin bằng các phƣơng tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin bao gồm các khâu cơ bản nhƣ thu thập, lƣu trữ, chế biến và truyền nhận thông tin”. Hàn Viết Thuận cho rằng: “CNTT là sự kết hợp của công nghệ máy tính với công nghệ liên lạc viễn thông đƣợc thực hiện trên cơ sở công nghệ vi điện tử”. Luật CNTT đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 11, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 22/6/2006 xác định: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số". Nhƣ vậy, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin.
Theo cách nhìn đó, CNTT bao gồm các phƣơng pháp khoa học, các phƣơng tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là máy tính và mạng truyền thông cùng với hệ thống nội dung thông tin điện tử nhằm tổ chức, lƣu trữ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động KT-XH, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đây có thể đƣợc coi là một định nghĩa hoàn chỉnh về CNTT vì nó đã bao quát đƣợc toàn bộ nội dung, vai trò và ý nghĩa của CNTT đối với các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Thuật ngữ CNTT trong luận văn đƣợc sử dụng theo cách hiểu này. Các đặc điểm của công nghệ thông tin Thứ nhất, công nghệ thông tin là công nghệ mũi nhọn.
Theo nghĩa chung nhất, công nghệ mũi nhọn là công nghệ đƣợc xây dựng dựa trên những thành quả mới nhất của nhiều công nghệ khác và của những lý thuyết khoa học hiện đại. Do vậy, để xây dựng đƣợc một ngành công nghệ mũi nhọn, trƣớc hết, phải phát triển ngành khoa học đó trên cơ sở những lý thuyết hiện 7 đại nhất và có những bƣớc đi thích hợp trong quá trình phát triển, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật của ngành đó vào cuộc sống. Muốn xây dựng CNTT thành một công nghệ mũi nhọn, cần phải tiếp cận và theo kịp những tri thức của thế giới về CNTT, từ đó có những bƣớc phát triển vƣợt bậc và những ƣu thế rõ rệt trong lĩnh vực đó so với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Ngành CNTT ở tất cả các nƣớc hiện nay đều đƣợc coi là ngành công nghệ mũi nhọn vì nó luôn đòi hỏi phải dựa trên những lý thuyết mới và sự phát triển.
Thứ hai, công nghệ thông tin là công nghệ phổ biến trong mọi lĩnh vực. Ngày nay, CNTT đã tác động mạnh mẽ đến tất các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ứng dụng CNTT trở nên phổ biến trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và các dịch vụ quan trọng trong đời sống hiện đại của con ngƣời nhƣ: quản lý công, quản lý sản xuất kinh doanh, trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,… Thứ ba, công nghệ thông tin là một công nghệ có nhiều tầng lớp. CNTT có nhiều tầng lớp và tầng lớp trên lại đƣợc xây dựng dựa trên các tầng lớp dƣới.
Cụ thể CNTT gồm có các tầng lớp sau: - Các chƣơng trình ứng dụng riêng cho từng cơ quan, đơn vị. Đây có thể là chƣơng trình ứng dụng đƣợc thành lập từ một ngôn ngữ lập trình, dựa trên hệ quản trị cơ sở dữ liệu (CSDL). Tầng lớp trên cùng này thƣờng đƣợc thiết kế tại chỗ hoặc đƣợc đặt gia công bên ngoài. - Các chƣơng trình ứng dụng và hệ phần mềm cơ bản.
Đây là phần phức tạp nhất, bao gồm các chƣơng trình cơ bản sau: + Các chƣơng trình ứng dụng tổng quát, chuyên cho quản lý, xử lý văn bản, tính toán công nghiệp hay tính toán khoa học mà ngƣời sử dụng cuối 8 cùng có thể viết những ứng dụng dễ dàng hay cũng có thể sử dụng ngay mà không cần viết thêm chƣơng trình. + Các chƣơng trình “phần mềm trung gian”, cho phép các chƣơng trình ứng dụng phân tán sử dụng tới mạng thông tin, thông qua hệ điều hành mạng. Đây là những chƣơng trình có vai trò ứng dụng quan trọng nhất vào lĩnh vực quản lý hiện nay. + Các chƣơng trình gắn liền với một sản phẩm đặc biệt nào đó, với những giao diện sử dụng đặc biệt trực tiếp với ngƣời tiêu dùng nhƣ máy nghe nhạc, ti vi, máy giặt, máy bay… Các chƣơng trình này thƣờng do những hãng làm sản phẩm tự viết ra hoặc đặt gia công tại các công ty chuyên phát triển phần mềm.
- Hệ điều hành và hệ điều hành mạng là môi trƣờng thiết yếu cho các ứng dụng hoạt động. - Tầng tiếp theo bao gồm tất cả các hệ máy và mạng đang hoạt động trên thế giới. Việc sản xuất các máy này bắt đầu từ: làm ra các bảng tích hợp trong đó gắn các linh kiện điện tử; lắp ráp với phần điện, cơ khí và các thiết bị ngoại vi,… để trở thành một máy tính hoàn hảo, hay một bộ phận của một thiết bị công nghiệp hay một sản phẩm tiêu dùng. - Tầng cuối cùng là việc sản xuất các linh kiện điện tử.
Thứ tư, công nghệ thông tin là lĩnh vực phát triển và đào thải nhanh. Những nghiên cứu trên thị trƣờng cho thấy, các sản phẩm CNTT và thiết bị ngoại vi thƣờng có sự chuyển biến nhanh dƣới sự tác động của các tiến bộ KHCN. Những chuyển biến này chạy theo kịp đà tiến của công nghiệp điện tử cơ bản theo quy luật Moore, với giá cố định thì khả năng các linh kiện sau 18 tháng lại tăng gấp đôi về công năng (dung lƣợng bộ nhớ, tốc độ xử lý thông tin…). 9 Nhƣ vậy, trong CNTT, phần cứng (thiết bị, các bộ xử lý…) có tốc độ thay đổi và đào thải nhanh nhất.
Trong khi đó, việc thiết kế hệ thống có tốc độ biến chuyển chậm hơn, cuối cùng phần mềm ứng dụng tổng quát còn biến chuyển chậm hơn nữa. Cụ thể, hàng thập kỷ, thế giới mới nảy sinh những thiết kế hệ thống độc đáo hay những chƣơng trình ứng dụng tổng quát mới. Tác động của công nghệ thông tin đến phát triển kinh tế - xã hội. Sự ra đời của máy tính điện tử, quá trình tự động hoá điều khiển các thiết bị sản xuất và các dây chuyền sản xuất, tin học hoá các hoạt động quản lý, kinh doanh và quá trình ứng dụng rộng rãi CNTT đã thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động thông tin trong mọi lĩnh vực.
Các hoạt động này đến lƣợt nó lại tạo ra nhiều giá trị gia tăng trong các khu vực kinh tế, làm cho thông tin trở thành một nguồn tài nguyên quan trọng hàng đầu. Những tác động chủ yếu của CNTT đối với sự phát triển KT-XH trong các lĩnh vực của nền kinh tế nhƣ quản lý, công nghiệp, dịch vụ, đời sống xã hội có thể tóm tắt nhƣ sau. Đối với lĩnh vực quản lý, đây là lĩnh vực ứng dụng CNTT nhiều nhất trong các lĩnh vực kể trên. Việc đầu tƣ CNTT vào khu vực này bao gồm tin học hoá QLNN và quản lý công cộng, quản lý tài chính, quản lý thuế, đầu tƣ, giao thông công cộng, hàng không, hàng hải, dân cƣ, lao động, bảo hiểm xã hội… Quá trình đầu tƣ này chiếm lƣợng kinh phi không nhỏ nhƣng tạo ra hiệu quả kinh tế và xã hội vô cùng lớn.
Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nƣớc cho thấy, quá trình này chỉ đem lại hiệu quả khi nó đƣợc đi kèm với một quá trình cải tiến quản lý nghiêm túc, cải cách hành chính và cải cách kinh tế sâu sắc. Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, CNTT tạo ra một ngành công nghiệp mới là công nghiệp CNTT. Mặt khác, CNTT đƣợc ứng dụng trong các quá trình sản xuất và trong tổ chức sản xuất của ngành công nghiệp để tăng năng suất và nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới với nhiều 10 tính năng hiện đại; tự động hóa các hoạt động thiết kế và chế tạo sản phẩm; tin học hóa các hoạt động tiếp thị, kinh doanh… Cần chú ý rằng, CNTT không chỉ tác động đến các ngành công nghiệp công nghệ cao, mà còn có thể tạo ra hiệu quả cao đối với các ngành thủ công nghiệp hoặc công nghiệp với công nghệ truyền thống nhƣ: dệt, may, thêu ren,… bằng việc ứng dụng tự động hoá các khâu của quá trình sản xuất. Chẳng hạn, một máy liên hợp thêu có ứng dụng CNTT có năng suất thêu trên vải bằng hàng trăm thợ thủ công truyền thống.
Chính CNTT đã làm thay đổi ngành công nghiệp thêu ren vốn trƣớc đây chỉ tổ chức theo kiểu truyền thống.