Tổng quan nghiên cứu

Bát Xát là huyện vùng cao biên giới thuộc tỉnh Lào Cai với diện tích tự nhiên 103.568,02 ha, nơi hội tụ sinh sống của 23 dân tộc anh em. Theo Quyết định số 353/QĐ-TTg ngày 15/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, Bát Xát nằm trong danh sách 74 huyện nghèo cả nước với tỷ lệ hộ nghèo chiếm 45,40% (tương ứng 7.950 hộ) và cận nghèo chiếm 19,80% (tương ứng 3.467 hộ) năm 2021. Mức thu nhập bình quân đầu người tại địa phương chỉ đạt 28,6 triệu đồng/người/năm. Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, hoạt động sản xuất làng nghề tại Bát Xát bộc lộ nhiều điểm nghẽn: quy mô nhỏ lẻ, kỹ thuật thô sơ, quy hoạch thiếu tính đồng bộ và giá trị gia tăng thấp.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế tập trung giải quyết yêu cầu hoàn thiện quản lý nhà nước đối với làng nghề nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về làng nghề; phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý giai đoạn 2019 - 2021; xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đến năm 2025. Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại địa bàn huyện Bát Xát, sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 2019 - 2021 kết hợp điều tra khảo sát thực địa từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2022. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được khẳng định qua việc giải quyết việc làm cho 549 lao động với thu nhập bình quân 5,2 triệu đồng/tháng năm 2021, đóng góp vào giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp 295 tỷ đồng của toàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế kết hợp mô hình phát triển cụm ngành nông thôn. Quản lý nhà nước đối với làng nghề là sự tác động có tổ chức của quyền lực công thông qua hệ thống công cụ quy hoạch, chính sách hỗ trợ và kiểm tra giám sát nhằm phân bổ nguồn lực, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.

Khung pháp lý trọng tâm của đề tài căn cứ vào Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn. Ba tiêu chí bắt buộc để xét công nhận làng nghề truyền thống bao gồm: tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn; sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm liên tục; và đáp ứng đầy đủ quy chuẩn bảo vệ môi trường theo quy định. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: làng nghề truyền thống, làng nghề mới, công cụ quản lý kinh tế và năng lực thực thi chính sách của chính quyền cấp huyện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp đa chiều. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Bát Xát và các văn bản điều chỉnh quy hoạch giai đoạn 2019 - 2021.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp tổng điều tra toàn diện với cỡ mẫu gồm 17 cán bộ quản lý chuyên môn (07 cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 10 cán bộ Phòng Kinh tế và Hạ tầng) cùng toàn bộ 277 hộ gia đình sản xuất thường xuyên tại 13 làng nghề trên địa bàn huyện Bát Xát. Lý do lựa chọn phương pháp tổng điều tra là nhằm bao quát toàn bộ các chủ thể kinh doanh thương mại thường xuyên, loại trừ sai số mẫu. Phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý). Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả tính điểm trung bình và so sánh định lượng nhằm làm rõ biến động các chỉ tiêu qua các mốc thời gian. Đợt điều tra thực địa được triển khai từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô làng nghề có sự mở rộng rõ nét. Tính đến năm 2021, huyện Bát Xát có 13 làng nghề được công nhận chính thức (gồm 10 làng nghề truyền thống và 3 làng nghề mới), tăng thêm 3 làng nghề so với con số 10 làng nghề của năm 2019.

Thứ hai, các chỉ tiêu kinh tế ghi nhận sự tăng trưởng tích cực. Số lượng lao động làng nghề tăng từ 471 người năm 2019 lên 549 người năm 2021, tương ứng tỷ lệ tăng 16,56%. Thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 4,1 triệu đồng/tháng năm 2019 lên 5,2 triệu đồng/tháng năm 2021, đạt mức tăng trưởng 26,83%.

Thứ ba, cơ cấu tổ chức sản xuất bộc lộ tính phân tán sâu sắc. Trong tổng số 291 cơ sở sản xuất kinh doanh năm 2021, hộ gia đình chiếm tới 277 cơ sở (tỷ lệ 95,19%), trong khi chỉ có 4 doanh nghiệp (chiếm 1,37%), 7 hợp tác xã (chiếm 2,41%) và 3 tổ hợp tác (chiếm 1,03%).

Thứ tư, khảo sát cán bộ quản lý chỉ ra tiêu chí quy hoạch phù hợp với lợi thế địa phương đạt 4,41/5 điểm, tính khả thi đạt 4,23/5 điểm. Tuy nhiên, tiêu chí hướng dẫn cụ thể hóa nội dung quy hoạch chỉ đạt mức thấp nhất là 3,70/5 điểm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng cơ cấu sản xuất chủ yếu là hộ cá thể nhỏ lẻ (chiếm 95,19%) bắt nguồn từ điều kiện địa hình chia cắt mạnh với 15 xã vùng cao, trình độ dân trí chưa đồng đều và tỷ lệ hộ nghèo lên tới 45,40%. Người dân thiếu vốn đối ứng và kỹ năng quản trị hiện đại nên khó chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp hay hợp tác xã.

Khi so sánh với huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên) có 50 làng nghề chè được ngân sách hỗ trợ trực tiếp từ 40 đến 50 triệu đồng mỗi làng nghề, hoặc huyện Cẩm Giàng (tỉnh Hải Dương) quy hoạch 2 cụm công nghiệp tập trung thu hút 204 doanh nghiệp, quản lý nhà nước tại Bát Xát còn thiếu hạ tầng tập trung và nguồn lực hỗ trợ còn phân tán.

Về phương diện trực quan hóa dữ liệu, các kết quả trên có thể được trình bày rõ ràng qua biểu đồ cột phản ánh đà tăng thu nhập lao động từ 4,1 lên 5,2 triệu đồng/tháng và bảng cơ cấu phân bố cơ sở sản xuất, giúp cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện điểm nghẽn để ban hành chính sách can thiệp kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với làng nghề tại huyện Bát Xát đòi hỏi triển khai 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch không gian làng nghề. Ủy ban nhân dân huyện Bát Xát phối hợp Phòng Kinh tế và Hạ tầng tiến hành rà soát, quy hoạch chi tiết 100% diện tích đất sản xuất tập trung cho các làng nghề, tách dần khu vực sản xuất ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, hoàn thành phê duyệt trước quý IV năm 2024.

Thứ hai, mở rộng chính sách hỗ trợ vốn tín dụng và công nghệ. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Bát Xát phối hợp Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nâng mức vay ưu đãi lên 50 đến 100 triệu đồng cho mỗi cơ sở, đảm bảo trên 85% hộ sản xuất tiếp cận vốn vay trước năm 2025. Đồng thời, trích ngân sách khuyến công hỗ trợ máy móc cải tiến chất lượng sản phẩm.

Thứ ba, chuẩn hóa lao động và xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP. Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Bát Xát tổ chức tối thiểu 15 lớp đào tạo kỹ thuật mỗi năm, hỗ trợ 100% làng nghề đăng ký nhãn hiệu tập thể, hướng đến mục tiêu 100% làng nghề sở hữu sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên vào cuối năm 2025.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng gắn với làng nghề. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Bát Xát chủ trì xây dựng 5 tuyến du lịch trải nghiệm làng nghề tại Y Tý, Dền Sáng, Mường Hum và Bản Xèo, duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch làng nghề đạt 25% đến 28%/năm giai đoạn 2024 - 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai cùng Ủy ban nhân dân huyện Bát Xát. Luận văn cung cấp số liệu thực chứng từ 17 cán bộ chuyên trách và 277 hộ sản xuất, làm căn cứ điều chỉnh quy hoạch đất đai và chính sách hỗ trợ làng nghề sát thực tiễn.

Thứ hai, giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế. Đề tài là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp đánh giá chính sách theo thang đo Likert 5 mức độ và mô hình so sánh giữa 3 địa phương Bát Xát, Đại Từ và Cẩm Giàng.

Thứ ba, chủ cơ sở sản xuất và ban quản trị hợp tác xã làng nghề. Luận văn định hướng lộ trình chuyển đổi từ hình thức hộ nhỏ lẻ (chiếm 95,19%) sang mô hình hợp tác xã, tiếp cận vốn ưu đãi và quy chuẩn hóa nhãn hiệu tập thể.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan xúc tiến giảm nghèo. Dữ liệu khảo sát tại huyện vùng cao có 45,40% hộ nghèo và 23 dân tộc thiểu số là căn cứ thực tiễn quan trọng để xây dựng các dự án tài trợ sinh kế gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

Làng nghề truyền thống tại huyện Bát Xát cần đáp ứng điều kiện gì để được công nhận chính thức? Theo Điều 5 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP, làng nghề phải đáp ứng đồng thời 3 tiêu chí: tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia sản xuất ngành nghề nông thôn, thời gian hoạt động ổn định liên tục từ 2 năm trở lên và thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường nông thôn theo pháp luật hiện hành.

Mức thu nhập của người lao động làng nghề tại Bát Xát biến động ra sao trong giai đoạn 2019 - 2021? Thu nhập bình quân của 549 lao động làng nghề tăng từ 4,1 triệu đồng/tháng năm 2019 lên 5,2 triệu đồng/tháng năm 2021, tương ứng mức tăng trưởng 26,83%. Mức thu nhập này cao hơn rõ rệt so với thu nhập bình quân đầu người toàn huyện Bát Xát năm 2021 là 28,6 triệu đồng/năm (khoảng 2,38 triệu đồng/tháng).

Đâu là hạn chế lớn nhất trong quản lý nhà nước về quy hoạch làng nghề tại địa phương? Kết quả khảo sát cán bộ quản lý cho thấy tiêu chí hướng dẫn cụ thể hóa nội dung quy hoạch chỉ đạt 3,70/5 điểm, thấp nhất trong các tiêu chí. Thực tế này phản ánh việc tổ chức thực hiện quy hoạch tại 13 làng nghề vùng cao còn mang tính định hướng vĩ mô, thiếu các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết tại cơ sở.

Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh nào đang chiếm ưu thế tại các làng nghề Bát Xát? Kinh tế hộ gia đình chiếm vị trí áp đảo với 277 cơ sở trong tổng số 291 cơ sở sản xuất kinh doanh năm 2021, tương ứng tỷ trọng 95,19%. Trong khi đó, khu vực kinh tế tập thể phát triển rất chậm với chỉ 7 hợp tác xã (chiếm 2,41%) và 4 doanh nghiệp (chiếm 1,37%).

Triển vọng phát triển du lịch gắn với các làng nghề truyền thống tại Bát Xát như thế nào? Giai đoạn 2016 - 2020, huyện Bát Xát ghi nhận tốc độ tăng trưởng khách du lịch bình quân 25%/năm và doanh thu tăng 28%/năm. Các mô hình làng nghề nấu rượu Bản Xèo, chạm bạc Mường Hum và dệt thổ cẩm Dền Sáng đang tạo sức hút lớn, đóng góp trực tiếp vào sinh kế người dân vùng cao.

Kết luận

Nội dung tổng kết nghiên cứu được khái quát qua 5 điểm then chốt:

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với làng nghề vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP.
  • Đánh giá thực trạng phát triển 13 làng nghề huyện Bát Xát năm 2021 với 549 lao động và giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 295 tỷ đồng.
  • Nhận diện điểm nghẽn thực thi quy hoạch (đạt 3,70/5 điểm) và cơ cấu sản xuất hộ gia đình nhỏ lẻ chiếm tới 95,19%.
  • Rút ra 4 bài học kinh nghiệm sâu sắc từ mô hình quản lý làng nghề tại huyện Đại Từ và huyện Cẩm Giàng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược kèm mục tiêu lượng hóa rõ ràng cho giai đoạn 2023 - 2025.

Đóng góp trọng tâm của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có tính ứng dụng cao cho một huyện miền núi có 45,40% hộ nghèo. Kế hoạch tiếp theo giai đoạn 2023 - 2025 yêu cầu chính quyền huyện Bát Xát khẩn trương hoàn thành quy hoạch chi tiết 100% làng nghề và mở rộng nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy tích cực tham khảo tài liệu này để thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề vùng cao.