Quản lý Nhà nước của tỉnh Thanh Hóa đối với Phát triển Du lịch Bền vững - Luận án TS

Phân tích vai trò và các biện pháp quản lý nhà nước của tỉnh Thanh Hóa trong việc thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế, văn

Trường đại học

Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Lê Thị Bình

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

235
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước du lịch bền vững Thanh Hóa

Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững là hoạt động mang tính hệ thống. Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật, chiến lược, quy hoạch và chính sách để điều chỉnh toàn bộ quá trình phát triển du lịch. Mục tiêu hướng đến là sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển văn hóa xã hội. Tỉnh Thanh Hóa sở hữu tiềm năng du lịch phong phú. Địa phương có bờ biển dài hơn 100 km, nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Vườn quốc gia Bến En, khu du lịch Sầm Sơn, Pù Luông thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững tại Thanh Hóa còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ. Nguồn nhân lực du lịch thiếu và yếu. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch chưa đáp ứng yêu cầu. Cần có giải pháp toàn diện để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Chiến lược phát triển du lịch phải gắn liền với bảo tồn tài nguyên và phát triển cộng đồng.

1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức, có hệ thống của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lên hoạt động du lịch. Mục đích là điều chỉnh, định hướng và kiểm soát quá trình phát triển du lịch theo đúng pháp luật. Theo nghiên cứu, quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững bao gồm nhiều nội dung quan trọng. Đó là xây dựng thể chế, ban hành chính sách, lập quy hoạch kế hoạch phát triển du lịch. Đồng thời thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực du lịch. Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự hài hòa giữa ba trụ cột kinh tế, môi trường và văn hóa xã hội.

1.2. Thực trạng tài nguyên du lịch tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hóa là tỉnh có diện tích lớn nhất miền Bắc Việt Nam. Địa phương sở hữu hệ thống tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú. Về tài nguyên thiên nhiên, Thanh Hóa có bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp. Sầm Sơn, Hải Tiến là hai bãi biển nổi tiếng. Vườn quốc gia Bến En, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có cảnh quan hấp dẫn. Về tài nguyên nhân văn, Thanh Hóa có hơn 1.500 di tích lịch sử văn hóa. Thành nhà Hồ là Di sản Văn hóa Thế giới. Các lễ hội truyền thống, phong tục tập quán độc đáo tạo nên sức hút riêng cho vùng đất này.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước du lịch Thanh Hóa

Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại Thanh Hóa đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Hệ thống tổ chức quản lý du lịch còn chồng chéo, phân tán. Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý nhưng thiếu sự phối hợp hiệu quả. Nguồn nhân lực du lịch là điểm yếu lớn nhất. Lao động trong ngành du lịch chưa được đào tạo bài bản. Số lượng hướng dẫn viên có trình độ chuyên môn cao còn ít. Kỹ năng ngoại ngữ và nghiệp vụ phục vụ của nhân viên chưa đáp ứng yêu cầu quốc tế. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch còn thiếu và yếu. Hệ thống giao thông kết nối các điểm du lịch chưa đồng bộ. Nhiều khu du lịch thiếu nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn. Bảo vệ môi trường du lịch là thách thức nghiêm trọng. Ô nhiễm biển tại Sầm Sơn gia tăng. Rừng phòng hộ bị xâm phạm. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức tại một số điểm du lịch. Những tồn tại này đòi hỏi sự can thiệp quyết liệt từ phía nhà nước.

2.1. Hạn chế trong cơ chế chính sách quản lý du lịch

Hệ thống pháp luật về du lịch tại Thanh Hóa còn nhiều bất cập. Các văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ với nhau. Nhiều quy định chồng chéo gây khó khăn cho doanh nghiệp và người dân. Chính sách ưu đãi đầu tư vào du lịch chưa hấp dẫn. Nhà đầu tư gặp khó khăn trong tiếp cận đất đai. Quy trình cấp phép đầu tư phức tạp mất nhiều thời gian. Cơ chế phối hợp giữa các sở ngành còn lỏng lẻo. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch thiếu quyền hạn trong điều phối. Ngân sách đầu tư cho du lịch còn hạn chế so với nhu cầu thực tế.

2.2. Thách thức về bảo vệ môi trường du lịch

Bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách trong phát triển du lịch bền vững. Tình trạng ô nhiễm biển tại các khu du lịch ngày càng gia tăng. Rác thải sinh hoạt và rác thải nhựa tràn ngập bãi biển Sầm Sơn vào mùa cao điểm. Nước thải từ các nhà hàng khách sạn chưa qua xử lý đổ thẳng ra biển. Khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức cũng là vấn đề lớn. Rừng đầu nguồn bị thu hẹp. Đa dạng sinh học suy giảm tại nhiều khu bảo tồn. Hoạt động xây dựng bê tông hóa bờ biển phá vỡ cảnh quan tự nhiên nghiêm trọng.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý du lịch bền vững

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại Thanh Hóa đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách. Cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng minh bạch cho hoạt động du lịch. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là giải pháp then chốt. Cần xây dựng chương trình đào tạo nghề du lịch chất lượng cao. Hợp tác với các trường đại học viện nghiên cứu để nâng cao trình độ lao động. Thu hút nhân lực chất lượng cao từ các tỉnh thành khác. Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cần gắn với bảo vệ môi trường. Đầu tư hệ thống xử lý nước thải rác thải hiện đại tại các khu du lịch. Xây dựng hạ tầng giao thông kết nối thuận tiện. Phát triển du lịch xanh du lịch cộng đồng tại các vùng nông thôn. Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý du lịch. Học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển du lịch bền vững. Thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch thân thiện với môi trường.

3.1. Hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển du lịch

Hoàn thiện thể chế là nền tảng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Cần rà soát sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan đến du lịch. Đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong hệ thống quy phạm pháp luật. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả. Thành lập Ban Chỉ đạo phát triển du lịch bền vững cấp tỉnh. Ban hành chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn. Đơn giản hóa quy trình cấp phép. Hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận đất đai thuận lợi. Ưu tiên dự án du lịch xanh du lịch sinh thái du lịch cộng đồng.

3.2. Phát triển du lịch cộng đồng và bảo tồn văn hóa

Phát triển du lịch cộng đồng là hướng đi bền vững cho Thanh Hóa. Mô hình này giúp phát huy vai trò chủ thể của người dân địa phương. Tỉnh cần xây dựng các điểm du lịch cộng đồng tại Pù Luông Cẩm Thủy Bá Thước. Phát triển loại hình homestay trải nghiệm văn hóa bản địa. Du khách được tham gia lao động sản xuất thưởng thức ẩm thực truyền thống. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Hỗ trợ cộng đồng duy trì lễ hội phong tục tập quán truyền thống. Đào tạo kỹ năng giao tiếp phục vụ du khách cho người dân địa phương.

IV. Kết luận và hướng phát triển du lịch bền vững Thanh Hóa

Quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững tại Thanh Hóa là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý còn nhiều hạn chế. Thể chế chính sách chưa đồng bộ. Nguồn nhân lực thiếu và yếu. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu. Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý cần được triển khai đồng bộ. Hoàn thiện thể chế là nền tảng. Đào tạo nhân lực là then chốt. Phát triển hạ tầng gắn với bảo vệ môi trường là yêu cầu bắt buộc. Ủy ban nhân dân tỉnh cần xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Ngân sách nhà nước cần được ưu tiên đầu tư cho phát triển du lịch bền vững. Sự tham gia của cộng đồng dân cư là yếu tố quyết định thành công. Phát triển du lịch bền vững tại Thanh Hóa sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời bảo tồn giá trị văn hóa và cải thiện đời sống nhân dân địa phương.

4.1. Kết luận về thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại Thanh Hóa. Hệ thống quản lý còn phân tán thiếu sự phối hợp liên ngành. Nguồn nhân lực du lịch không đáp ứng yêu cầu phát triển. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Môi trường du lịch bị ô nhiễm và suy thoái. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi cao. Hoàn thiện thể chế tạo nền tảng pháp lý vững chắc. Đào tạo nguồn nhân lực nâng cao chất lượng dịch vụ. Đầu tư hạ tầng gắn với bảo vệ môi trường đảm bảo phát triển bền vững.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và hướng nghiên cứu tiếp theo

Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn quản lý. Mô hình đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước áp dụng được cho các tỉnh có tiềm năng du lịch tương tự. Bộ tiêu chí đánh giá giúp chính quyền địa phương theo dõi giám sát quá trình phát triển du lịch. Hướng phát triển du lịch bền vững tại Thanh Hóa cần tập trung vào ba trụ cột du lịch biển đảo du lịch văn hóa lịch sử và du lịch sinh thái cộng đồng. Nghiên cứu cần được tiếp tục mở rộng về đánh giá tác động biến đổi khí hậu và vai trò công nghệ số trong quản lý du lịch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Quản lý nhà nước của tỉnh thanh hóa đối với phát triển du lịch bền vững

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về QLNN của địa phương cấp tỉnh đối với PTDLBV. Chương 3: Thực trạng QLNN của tỉnh Thanh Hóa đối với PTDLBV. Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN của tỉnh Thanh Hóa đối với PTDLBV. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững Trên thế giới, lý thuyết về PTBV xuất hiện vào khoảng giữa những năm 80 và chính thức được đưa ra tại Hội nghị của Ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (WCED) năm 1987, theo đó “PTBV được hiểu là hoạt động phát triển kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Trong lĩnh vực du lịch, ngay từ đầu thập niên 1990 các nhà khoa học đã đưa ra cảnh báo về sự phát triển du lịch với mục đích đơn thuần kinh tế sẽ có những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái, đến các giá trị văn hoá truyền thống cộng đồng địa phương. Hậu quả của các tác động này sẽ lại ảnh hưởng đến chính sự phát triển lâu dài của ngành du lịch.

Chính vì vậy đã xuất hiện yêu cầu nghiên cứu về “PTDLBV” nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của HĐDL đảm bảo sự phát triển lâu dài. Trong quá trình thống nhất về nhận thức, khái niệm về PTDLBV vẫn còn có sự chưa thống nhất, đặc biệt giữa những người coi PTDLBV cần đảm bảo nguyên tắc chính là bảo tồn tài nguyên môi trường và văn hoá với những người xem nguyên tắc hàng đầu của PTDLBV là sự tăng trưởng về kinh tế do du lịch đem lại. Dưới góc độ về kinh tế mà sự quan tâm chủ yếu đối với phát triển du lịch là lợi nhuận thì “DLBV là quá trình HĐDL mà ở đó có thể duy trì được sự phát triển trong một thời gian, giai đoạn không xác định”. Tuy nhiên, quan niệm này chịu rất nhiều sự chỉ trích, phê phán của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà nghiên cứu về tài nguyên và môi trường.

Đa số cho rằng “DLBV là hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”. Dựa trên các nguyên tắc của PTBV và phân tích những quan điểm còn chưa thống nhất, Tổ chức Du lịch Thế giới - UNWTO đã đưa ra khái niệm về DLBV tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, theo đó “DLBV là việc phát triển các HĐDL nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển HĐDL trong tương lai. DLBV sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn 9 hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”. Như vậy có thể coi DLBV là một nhánh của PTBV.

Hoạt động PTDLBV là hoạt động phát triển ở một lãnh thổ cụ thể sao cho nội dung, hình thức, và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác. Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển của các ngành khác, sự PTBV chung của khu vực. Trong hơn hai thập kỷ qua, nhiều tác giả cho rằng vẫn chưa tìm được sự đồng nhất trong bản chất, mục tiêu và khả năng ứng dụng của DLBV. Do vậy, cũng không xác định được định nghĩa DLBV nào là phổ biến hay duy nhất.

“PTDLBV, nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường, đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, thúc đẩy công bằng hiện tại và giữa các thế hệ và cải thiện chất lượng cuộc sống của tất cả mọi người”. Đây là khái niệm chung về DLBV được lần đầu tiên sử dụng vào đầu những năm 1990 khi một số tác giả nhận thức được tiềm năng to lớn của ngành du lịch trong việc tạo ra cả chi phí và lợi ích như (Bull, 1992; D’Amore, 1992; Inskeep, 1991; Lane, 1991; Manning, 1991; Pigram, 1990; Dearden, 1991; Zurick, 1992) McKercher (1993) lại cho rằng, khi du lịch đạt được bền vững thì tài nguyên văn hóa - môi trường, xã hội và kinh tế của một khu vực sẽ được duy trì mãi mãi. Chú ý hơn tới yếu tố môi trường, Butler (1993) nhận định: “PTDLBV là quá trình phát triển và duy trì trong một không gian và thời gian nhất định và sự phát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng của môi trường với con người trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự phát triển lâu dài”. Theo quan điểm về PTBV, PTDLBV cần được phát triển sao cho bản chất, quy mô và phương thức phát triển phù hợp, hạn chế được những tác động tiêu cực làm tổn hại tới môi trường tự nhiên và văn hoá và góp phần tích cực cho phát triển cộng đồng, nỗ lực xóa đói giảm nghèo và thu hẹp khoảng giàu nghèo trong xã hội.

Theo quan điểm phát triển nói trên, trước hết việc PTDLBV phải tập trung vào giải quyết một số vấn đề sau: - Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương. - Đưa lại cho du khách những chuyến du lịch có chất lượng và có trách nhiệm. - Đảm bảo duy trì chất lượng của môi trường (tự nhiên và văn hóa) vì lợi ích không chỉ của cộng đồng địa phương mà cả du khách. 10 Như vậy có thể thấy ở phạm vi toàn cầu, phần lớn các khái niệm về PTDLBV đều đề cập đến một trong những mục tiêu trọng tâm là đem lại lợi ích cho cộng đồng với vai trò là một chủ thể có vai trò đặc biệt quan trọng đối với HĐDL.

Nghiên cứu của Richard Sharpley (2009), Tourism development and the environment: beyond sustainability? (PTDL và môi trường: phía bên kia tính bền vững), tác giả đã trình bày nội dung của của các khái niệm DLBV đã được các công trình nghiên cứu trước đó đưa ra và các quy trình xây dựng chính sách trong các thập niên gần đây, đồng thời chỉ ra điểm hạn chế của các mô hình PTDL hiện tại. Nghiên cứu này cung cấp các quan điểm khác nhau về khái niệm DLBV, tạo cho người đọc cái nhìn khách quan, đa chiều về PTDLBV. Đồng thời, trình bày rõ mối tương quan giữa bền vững du lịch và bền vững môi trường. Tài liệu của UNWTO ấn hành (2004), Indicators of Sustainable Development for Tourism Destinations, Madrid, Spain (Các chỉ số về PTBV cho các điểm đến du lịch, Madrid, Tây Ban Nha), nội dung tài liệu phân tích về sự cần thiết xây dựng và ứng dụng chỉ số PTBV cho các điểm đến du lịch; hướng dẫn một quy trình để có thể xác định các chỉ số đáp ứng tốt nhất các vấn đề của điểm du lịch cụ thể; đề xuất một bộ nhóm với trên 40 chỉ số cụ thể PTBV tại các điểm đến du lịch, bao gồm các nhóm chỉ số liên quan đến an sinh, duy trì bản sắc văn hóa, sự hài lòng và tham gia của người dân bản địa trong du lịch, yếu tố sức khỏe và an toàn, khả năng nắm bắt lợi ích kinh tế từ du lịch, công tác giám sát sử dụng tài nguyên và quản lý năng lượng, việc hạn chế tác động tiêu cực từ HĐDL, trình độ kiểm soát và quản lý, việc thiết kế sản phẩm và dịch vụ,tính bền vững của các hoạt động và dịch vụ du lịch.

Tài liệu có ý nghĩa tham khảo thiết thực cả về lý thuyết cũng như cho công tác hoạch định chính sách và thực hành PTBVDL của các quốc gia, khu vực, địa phương. Mô hình PTBV và các yếu tố cấu thành: Có nhiều công trình về mô hình PTBV, như mô hình chi tiết của WCED (1987), đòi hỏi sự hài hòa của các lĩnh vực kinh tế - chính trị - hành chính công - xã hội - công nghệ kỹ thuật - sản xuất - quan hệ quốc tế. Mô hình 3 vòng tròn của Jacobs và Sadler (1990), PTBV là sự hài hòa cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, ba vòng tròn có kích thước tương đương nhau diện tích giao cắt của ba vòng tròn là lớn nhất, sự PTBV cao nhất (Nguyễn Anh Dũng, 2019). Những quan điểm chủ đạo về PTBVDL: một số các luận án tiến sĩ đề cập đến các quan điểm chủ đạo về PTDLBV: La Nữ Ánh Vân (2012), PTDL Bình Thuận trên quan điểm PTBV; Vũ Thị Hạnh (2012), Đánh giá tiềm năng tự nhiên phục vụ PTDLBV khu vực ven biển và các đảo tỉnh Quảng Ninh; Nguyễn Mạnh Cường 11 (2015), Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong PTDLBV Ninh Bình; Nguyễn Anh Dũng (2018), PTBVDL Ninh Bình trong điều kiện hiện nay.

Quan điểm chủ đạo PTBVDL hướng tới sự hài hòa của những mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường trong khi ngày càng phải tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, sự cân bằng này có thể thay đổi theo thời gian, những quy tắc xã hội, các điều kiện đảm bảo môi trường sinh thái và sự phát triển của khoa học công nghệ thay đổi cân bằng đó thay đổi theo. Bài viết “Luận bàn về quan điểm PTDLBV và không bền vững” của Lê Chí Công (2013). Sau khi khái lược một loạt quan điểm về PTDLBV, tác giả đã phân tích, so sánh những điểm khác nhau cơ bản giữa PTDLBV và không bền vững dựa trên các yếu tố đánh giá như tốc độ phát triển, mức độ kiểm soát, mục tiêu, phương pháp tiếp cận, đối tượng tham gia kiểm soát, yếu tố chiến lược, kế hoạch, quản lý, việc sử dụng nguồn lực, thái độ của khách du lịch…; Nhấn mạnh sự cần thiết phải đi đến một quan điểm toàn diện và đầy đủ về PTDLBV, nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và vận dụng trong thực tiễn quản lý PTDL.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ