đặt vấn đề nghiên cứu đối tượng lao động trong các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế Nhà nước, bao gồm: - NLĐ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; - NLĐ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; - NLĐ trong các hợp tác xã (HTX); - NLĐ trong các hộ sản xuất kinh doanh (SXKD) cá thể. Trước năm 1986, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, kinh tế Việt Nam chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể. Cho đến đầu thập kỷ 90, khi đất nước mở cửa nền kinh tế mới có nhiều khởi sắc. Sự đầu tư của nước ngoài xuất hiện vào Việt Nam ngày càng nhiều, các doanh nghiệp trong nước cũng phát triển mạnh mẽ với nhiều loại hình.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và sau đó là Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã ra đời để điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp đó có thuê mướn lao động đều phải thực hiện theo hình thức giao kết hợp đồng và đều thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Trong xu hướng phát triển kinh tế thị trường và hội nhập, thì quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh dưới dạng các công ty, doanh nghiệp thay cho mô hình kinh tế hộ, kinh tế cá thể. là một tất yếu.
Do vậy, các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước sẽ có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ trong tương lai. Tính chất phức tạp trong doanh nghiệp này cũng đã thể hiện rõ rệt, việc đảm bảo các chế độ cho NLĐ đặc biệt là BHXH sẽ rất khó khăn và cần sự quan tâm, vào cuộc của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức khác để bảo vệ NLĐ, từng bước ổn định thị trường lao động để phát triển kinh tế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Quỹ Bảo hiểm xã hội a.
Nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau (4): Nguồn thứ nhất - từ NSDLĐ đóng góp: Sự đóng góp này không những thể hiện trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ mà còn thể hiện nghĩa vụ của NSDLĐ đối với xã hội, nhà nước bởi đã đóng góp một phần BHXH cho NLĐ. NSDLĐ sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ của mình đồng thời cũng giảm bớt được những tranh chấp trong quan hệ lao động. Thông thường phần đóng góp này được xác định dựa trên quỹ lương của đơn vị, doanh nghiệp. Theo các quỹ thành phần, cụ thể như sau: - Quỹ ốm đau, thai sản: đóng bằng 3% quỹ tiền lương, tiền công của NLĐ.
- Quỹ TNLĐ-BNN: đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công của NLĐ. - Quỹ hưu trí, tử tuất: đóng bằng 14% quỹ tiền lương, tiền công của NLĐ. Nguồn thứ hai - từ NLĐ góp một phần tiền lương: Hệ thống BHXH ở các nước trên thế giới chủ yếu vẫn thực hiện trên nguyên tắc có đóng có hưởng vì vậy người tham gia phải đóng góp cho quỹ mới được hưởng BHXH. NLĐ tham gia đóng góp cho mình để bảo hiểm cho chính bản thân mình.
Thông qua hoạt động này NLĐ đã dàn trải rủi ro theo thời gian, chia nhỏ. Khoản đóng góp vào quỹ BHXH chính là khoản để dành dụm, tiết kiệm về sau bằng cách là hưởng lương hưu hoặc được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro xảy ra. Khoản trợ cấp này được xác định một cách khoa học và có cơ sở theo nguyên nhân. Mức đóng cụ thể như sau: - Quỹ hưu trí, tử tuất: đóng bằng 8% quỹ tiền lương, tiền công của NLĐ.
Nguồn thứ ba: Tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư quỹ. Nguồn thứ tư: Hỗ trợ của nhà nước, BHXH được nhà nước bảo hộ và đóng góp khi quỹ bị thâm hụt không đủ khả năng để chi trả cho các chế độ BHXH. Nguồn thu từ sự hỗ trợ Ngân sách Nhà nước có khi là khá lớn, sự hỗ trợ này là rất cần thiết và quan trọng. Có thể nói sự hỗ trợ của Nhà nước về chính sách BHXH là không thể thiếu.
Nguồn thứ năm: các nguồn thu hợp pháp khác, có thể kể tới sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, khoản tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng BHXH,. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội Căn cứ vào Mục 4 Điều 5 Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 quy định: “Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiển thất nghiệp ”. Căn cứ vào điều 01 Nghị định 05/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chính phủ xác định vị trí và chức năng của BHXH Việt Nam: “BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHYT, tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp, quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp (gọi chung là BHXH), BHYT theo quy định của pháp luật ”(24).
Đây là thể hiện nguyên tắc tập trung trong quản lý quỹ. Căn cứ vào các quy định trên, BHXH tỉnh Phú Thọ đã thực hiện và quản lý tốt nguồn thu quỹ BHXH của các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước tham gia đóng góp (trong đó chủ yếu là sự đóng góp của NLĐ đóng bằng 8% và NSDLĐ đóng bằng 18% quỹ tiền lương, tiền công của doanh nghiệp) đều được tập trung thống nhất vào tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh Phú Thọ gồm tài khoản ở các hệ thống: Một là tại Ngân hàng Thương mại có chi nhánh tại tỉnh Phú Thọ, tài khoản này áp dụng cho khối doanh nghiệp. Hai là tại Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Thọ, tài khoản này áp dụng đối với các khối như khối hành chính sự nghiệp, khối xã, phường. Hàng tháng định kỳ vào ngày 10, 20, 30, cán bộ kế toán của BHXH tỉnh Phú Thọ chuyển hết toàn bộ số tiền thu BHXH kịp thời về BHXH Việt Nam, đồng thời đối chiếu, kiểm tra, chốt số liệu chính xác số dư trên tài khoản thu BHXH tại các ngân hàng, kho bạc kịp thời đúng quy định.
Những vấn đề cơ bản về quản lý nguồn thu Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm quản lý nguồn thu BHXH Để hiểu thế nào là quản lý nguồn thu BHXH trước tiên chúng ta xem xét khái niệm về “thu BHXH”. Thu BHXH được hiểu là việc mang số lượng tiền của các đối tượng tham gia BHXH về quỹ BHXH trong một khoảng thời gian nhất định. Công tác thu BHXH là toàn bộ quá trình thực hiện để mang số tiền của NLĐ, đơn vị sử dụng lao động về quỹ BHXH.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 c 16 Như vậy quản lý nguồn thu BHH được hiểu là sự tác động có tổ chức, có tính pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thu BHXH. Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức kinh tế của các cơ quan chức năng, nhằm đạt mục tiêu quản lý nguồn thu của BHXH. Mục tiêu quản lý nguồn thu BHXH - Thu đúng: Là đúng đối tượng, đúng mức, đúng tiền lương, tiền công và đúng thời gian quy định: mọi NLĐ khi có HĐLĐ hoặc giao kết lao động theo quy định, được trả công bằng tiền đều là đối tượng đóng BHXH bắt buộc. Việc xác định đúng đối tượng, đúng tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH của NLĐ là cơ sở quan trọng để đảm bảo thu đúng; việc thu đúng còn phụ thuộc vào tính chất hoạt động của doanh nghiệp sử dụng lao động để xác định đúng đối tượng, mức thu, phương thức thu.
- Thu đủ: Là thu đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền phải đóng BHXH của NLĐ, NSDLĐ. - Thu kịp thời: Là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động, tiền công, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia BHXH. Chế độ BHXH thường xuyên thay đổi để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, ở mỗi thời điểm thay đổi đó cần phải tổ chức thực hiện thu BHXH của NSDLĐ và NLĐ đảm bảo kịp thời, không để tồn đọng tiền thu, không bỏ sót lao động tham gia BHXH. Nguyên tắc quản lý nguồn thu BHXH - Tôn trọng pháp luật: BHXH đối với các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước là loại hình bảo hiểm mà NLĐ và NSDLĐ bắt buộc phải tham gia.
Các bên tham gia BHXH phải tuân thủ theo các quy định, hướng dẫn của Nhà nước. Các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH như không đóng, đóng không đủ số người thuộc diện bắt buộc phải tham gia, cố tình gây khó khăn, cản trở việc tham gia BHXH của NLĐ sẽ bị xử lý theo pháp luật tùy theo mức độ vi phạm. - Công khai, minh bạch trong thu BHXH: Cơ quan BHXH cần phải quản lý chặt chẽ diễn biến thu nhập của từng cá nhân NLĐ trong từng đơn vị sử dụng lao động. Các chủ sử dụng lao động phải công khai số lượng và quỹ tiền lương của đơn vị mình, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 c 17 điều đó giúp công tác quản lý thu thực hiện được chính xác mức thu nộp.
Quản lý thu BHXH được thực hiện thống nhất, dân chủ, công khai minh bạch, sử dụng tiền thu BHXH đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo từng quỹ thành phần. Nội dung quản lý nguồn thu BHXH Thu BHXH chính là giúp hình thành đầu vào của quỹ BHXH, là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động chi từ quỹ BHXH. Hay nói cách khác, quản lý thu BHXH đảm bảo cho yếu tố "đầu vào" tiền nộp BHXH đủ khả năng cần thiết, tức là có thu đúng, thu đủ, thu kịp thời mới đảm bảo chi đúng, chi đủ, chi kịp thời chế độ cho NLĐ. Tình trạng vi phạm pháp luật Lao động, Luật BHXH còn diễn ra phổ biến, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước; nợ đọng tiền BHXH, trốn đóng BHXH đang có chiều hướng gia tăng.
Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức thu đã bị xảy ra thất thoát, gây ảnh hưởng tới nguồn thu dẫn đến việc không đảm bảo cân đối quỹ BHXH trong tương lai.