Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành thống kê Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về nguồn nhân lực của Cục Thống kê trên địa bàn tỉnh Lào Cai Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về nguồn nhân lực Cục Thống kê trên địa bàn tỉnh Lào Cai. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH THỐNG KÊ 1. Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực ngành thống kê 1. Khái niệm nguồn nhân lực ngành thống kê 1.
Nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc thì:“Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [13, tr47]. Từ điển Bách khoa toàn thư tiếng Việt 2017 cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân” [27,Tr228]. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động 1. Nguồn nhân lực thống kê NNL Cục Thống kê có thể hiểu là những người đang làm việc trong ngành, là lực lượng lao động đang tham gia thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của ngành. Cụ thể, đó là những người làm việc trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về thống kê trực thuộc Cục Thống kê.
Phát triển NNL ngành thống kê Phát triển NNL được nhiều tác giả bàn đến. Nedler & Naedler cho rằng phát triển NNL và giáo dục đào tạo là những thuật ngữ có cùng nội hàm. Hai tác giả này định nghĩa: “Phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc” [18, tr 68]. Vậy, phát triển NNL ngành thống kê là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng NNL biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến thức, kỹ năng, thái độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng những nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển xã hội.
Phát triển NNL ngành thống kê ở tầm vĩ mô là các hoạt động của các tổ chức nhà nước mang tính quy mô (hệ thống giáo dục, đào tạo và các tổ chức kinh tế-xã hội nhằm tạo ra NNL có số lượng lớn, chất lượng cao phù hợp và đáp ứng nhu cầu của mỗi giai đoạn phát triển KT-XH nhất định). Phát triển NNL ngành thống kê có liên quan chặt chẽ đến giáo dục và đào tạo vì trình độ văn hóa của người lao động là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng phát triển NNL. Vì vậy, chất lượng nhân lực thống kê chỉ có thể được nâng cao khi được giáo dục-đào tạo tốt, bởi giáo dục-đào tạo là một mắt xích quan trọng của chu trình phát triển NNL, nó tạo nên sự chuyển biến về chất (kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp), nhưng để có một nhân cách nghề nghiệp hoàn chỉnh phù hợp và thích ứng với vị trí làm việc, NNL còn phải được rèn luyện sức khỏe và văn hóa nghề nghiệp. Đặc điểm NNL ngành thống kê NNL ngành thống kê có những đặc điểm sau: NNL ngành thống kê là những người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, chức vụ trong các cơ quan thuộc Cục Thống kê tỉnh, từ cấp tỉnh đến cấp huyện.
Có đủ trình độ chuyên môn phù hợp với ngạch, chức danh, chức vụ. Nhân lực thống kê có tính ổn định cao, đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động mà 11 không hoạt động theo nhiệm kỳ, chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi NNL của Cục Thống kê có đặc điểm cơ bản của NNL cơ quan nhà nước, thực thi các nhiệm vụ kinh tế, chính trị được nhà nước giao. Gồm có 4 đặc điểm sau: Thứ nhất, NNL Cục Thống kê có tính ổn định cao, đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động mà không hoạt động theo nhiệm kỳ, chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Thứ hai, Nhân lực thống kê được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, NNL Cục Thống kê thực hiện công tác quản lý nhà nước về thống kê, chịu trách nhiệm trên lĩnh vực kiểm soát, thống kê số liệu tất cả các lĩnh vực hành chính, hành pháp, lập pháp, dân sự.trên địa bàn tỉnh. Thứ tư, NNL Cục Thống kê Lào Cai chịu sự quản lý, pháp chế theo quy định và pháp luật của nhà nước ban hành. Vai trò NNL ngành thống kê Với yêu cầu số liệu ngày càng cao, ngành thống kê có một vai trò hết sức quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển KT-XH của đất nước cũng như của mỗi tỉnh, thành phố và như vậy NNL ngành thống kê đóng vai trò quyết định sự quan trọng ấy. Đây là lực lượng qóp phần quyết định, đánh giá sự phát triển của đất nước nói chung và của mỗi địa phương nói riêng.
Những đóng góp của NNL ngành thống kê trong quá trình phát triển KT-XH nói chung và trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng được thể hiện rõ nét ở một số nội dung sau: Thứ nhất, NNL ngành thống kê là lực lượng chủ yếu trong việc thu thập, tính toán, cung cấp thông tin giúp Đảng bộ và chính quyền tỉnh hoạch định những chiến lược đưa ra các chủ trương, chính sách, kế hoạch, quy hoạch phát triển KT-XH nói chung, chiến lược kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương nói riêng và cũng là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện đường lối chính sách đó. 12 Do đó việc phát triển NNL ngành thống kê là rất quan trọng. Thứ hai, phát triển NNL ngành thống kê có đủ phẩm chất, đảm bảo số lượng, cơ cấu, trình độ, sức khỏe, động lực làm việc…, đáp ứng yêu cầu công việc của ngành và phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương. Đối với tỉnh Lào Cai việc phát triển NNL ngành thống kê đóng vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của tỉnh đang phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi ngành thống kê phải có đội ngũ nhân lực có đủ phẩm chất năng lực để đáp ứng yêu cầu của ngành và sự phát triển chung của tỉnh.
Thứ ba, nhân lực thống kê có vai trò quan trọng trong điều kiện nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với một thế giới đầy biến động, Chính phủ Việt Nam và các Bộ, ngành, địa phương ngày càng có nhu cầu cao trong việc sử dụng số liệu thống kê phục vụ công tác xây dựng, giám sát và đánh giá việc thực hiện các chính sách dựa trên bằng chứng cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Tương tự, các doanh nghiệp đang hàng ngày cần số liệu thống kê phục vụ tác nghiệp và xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất - kinh doanh. Các nhà nghiên cứu, lập chính sách không thể phân tích, đánh giá và dự báo về tình hình phát triển KT-XH của Việt Nam trong tương lai nếu thiếu các nguồn thông tin thống kê tin cậy, kịp thời. Chính vì vậy, vai trò của nhân lực thống kê là không thể thiếu và rất cần được đào tạo phát triển nhân lực có đủ kiến thức và kỹ năng làm công việc này.
Từ vai trò của NNL ngành thống kê về sự phát triển ngành nói riêng và phát triển KT-XH nói chung chúng ta có thể thấy được việc quản lý nhà nước về NNL ngành thống kê là rất cần thiết. Tiêu chí đánh giá chất lượng NNL ngành thống kê Công tác đánh giá NNL là công tác vô cùng phức tạp, nhạy cảm, là cơ sở cho việc xây dựng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỉ luật và thực hiện chính sách đổi mới với cán bộ, công chức. Do vậy, thước đo đánh giá chất lượng NNL ngành Thống kê được thể hiện qua các tiêu chí cụ thể sau: 13 1. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Phẩm chất chính trị cán bộ, công chức được thể hiện ở mức độ nhận thức, ý thức chấp hành và kỹ năng vận dụng được những tư tưởng, đường lối chủ trương của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước vào trong công việc cũng như trong đời sống xã hội.
Cụ thể, là nhận thức đúng đắn về đường lối xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững các quan điểm lý luận, am hiểu đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước sẽ giúp mỗi cán bộ, công chức vững vàng trước những thách thức của cuộc sống. Phẩm chất đạo đức, lối sống: Cán bộ, công chức được thể hiện thông qua đạo đức cá nhân và đạo đức công việc, công vụ. Nếu như đạo đức cá nhân là điều kiện không thể thiếu về một công dân tốt thì đạo đức công việc, công vụ còn là điều kiện không thể thiếu của một cán bộ, công chức, gắn liền với đạo đức phục vụ nhân dân.