CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ NGUON NHÂN LUC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CAP TỈNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực khoa học công nghệ Trong những năm qua đã có những tài liệu, luận án, luận văn, dé tài nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở những góc độ khác nhau. Ở phạm vi cap nhà nước, có thé ké đến các công trình sau: - Đào Thị Thu Thủy (2021), Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học va công nghệ trong quá trình hội nhập quốc tế, Luận án Tiến si, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã trình bày chi tiết cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, nêu thực trạng của chính sách cũng như giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
- Đỗ Tuấn Thành (2018), Nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay, Tap chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 1-2018. Tác gia đã nhắn mạnh việc phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhân lực khoa học và công nghệ nói riêng là nhiệm vụ quan trọng dé phát triển đất nước. Thực trạng nhân lực khoa học và công nghệ của Việt Nam hiện nay không phải là quá ít so với quy mô dân số, cũng như so với các nước trong khu vực, tuy nhiên cơ cau và chất lượng còn hạn chế. Dé nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, tác giải đã đưa ra một số giải pháp mang tính chiến lược va phù hợp hơn, nhăm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp day mạnh CNH-HDH đất nước và hội nhập sâu rộng quốc tế.
- Võ Thị Tuyết Nhung (2017), Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay: một số vấn đề đặt ra và giải pháp, Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội, số 12(55)-2017. Tác giả đã đặt ra một số vấn đề đối với việc phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển, đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Các công trình này tập trung vào nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở cấp quốc gia và chưa đề cập trực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở cấp địa phương. Ở phạm vi cấp tỉnh, có thé kế đến các công trình nghiên cứu sau: - Phan Minh Hải (2019), Thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk, Luận văn Thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội.
Tác giả đã trình bày các cơ sở lý luận về chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, nêu thực trạng thực hiện chính sách tại tinh Đăk Lak và đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại địa phương. - Phạm Thị Hải Thanh (2017), Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia. Tác giả đã nêu ra cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, nêu thực trạng quản lý tại tỉnh Quảng Bình, đưa ra các phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của địa phương. - Nguyễn Thi Thu (2018), Giải pháp gan dao tạo với sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Ninh Bình tới năm 2025, Luận văn Thạc sĩ, Học viện khoa hoc xã hội.
Tác giả trình bay cơ sở lý luận và thực tiên vê đào tạo gắn với sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đưa ra thực trạng về đào tạo gắn với sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Ninh Bình cũng như đưa ra định hướng, giải pháp thúc đây đào tạo gắn với sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của địa phương. Nhìn chung những công trình trên đã khăng định được tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay nói chung và các địa phương nói riêng. Các công trình nghiên cứu cấp tỉnh tương đối sát thực với hoạt động quản lý nguồn nhân lực khoa học công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế; tuy nhiên do đặc thù điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau nên chỉ có thể là tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, đề xuất giải pháp cho tỉnh Thừa Thiên Hué, trong khi chưa có nghiên cứu cu thé nào về quản lý nguồn nhân lực KHCNở địa phương này. Tổng quan về khoa học và công nghệ 1.
Khát niệm khoa học và công nghệ 1. Khoa học Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, khoa học là hệ thống tri thức về ban chat, quy luat ton tai va phat triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Nói cách khác khoa học chính là quá trình nghiên cứu của con người nhằm phát hiện ra những kiến thức, quy luật. về các vẫn đề của tự nhiên và xã hội.
Những kiến thức, quy luật hay học thuyết mới có đặc điểm là tốt hơn, có khả năng thay thế dần những điều cũ, điều lạc hậu và không còn phù hợp với xã hội. Công nghệ Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng đề biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Nói tổng quát công nghệ chính là quá trình áp dụng những phát minh khoa học vào những mục tiêu cụ thé gan với đời sống và sản xuất dé phục vụ cho con người. Có thê hiểu thuật ngữ công nghệ theo nghĩa chung hoặc sử dụng riêng cho từng lĩnh vực cụ thể, ví dụ như "công nghệ sinh học”, "công nghệ vật liệu".
Khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ nói đến sự gắn bó chặt chẽ giữa hệ thống tri thức về ban chất, cầu trúc, nguyên lý hoạt động của thế giới tự nhiên và con người với việc áp dụng hệ thống tri thức đó thành giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ dé biến đổi nguồn lực từ môi trường sống thành sản phẩm, sử dụng trong sản xuất và đời sống. Từ định nghĩa khoa học và công nghệ, có thể thấy hai khái niệm này tuy khác biệt khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết. Sự phát triển của khoa học sẽ tác động tới công nghệ, kéo theo sự phát triển của công nghệ. Từ đó chúng có những tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất tới hoạt động sản xuất cua con người.
Vai trò của khoa học và công nghệ 1. Thúc đây tăng trưởng kinh tế Sự phát triển của khoa học cũng như việc phát minh ra các công nghệ moi gdp phan không nhỏ trong việc nâng cao hiệu qua san xuất, nâng cao về số lượng và chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian và chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, việc phối hợp sản xuất giữa các doanh nghiệp, các địa phương cũng trở nên dễ dàng hơn, quy mô sản xuất được mở rộng. Hàng hóa được sản xuất nhiều hơn, đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Thúc đây chuyền dịch cơ cấu kinh tế KH&CN phát triển là cơ sở cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế xã hội phát triển theo. Nhiều lĩnh vực mới xuất hiện, cơ cấu kinh tế cũng thay đổi tương ứng với sự phát triển của KH&CN. Sự phân công xã hội theo đó cũng ngày càng đa dạng hơn. Trên thực tế, sự phát triển của KH&CN dan tới tỷ trọng GDP các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng trong khi tỷ trọng ngành nông nghiệp có xu hướng giảm.
Cơ cau kinh tế từng ngành có sự thay đôi theo hướng mở rộng các ngành công nghệ cao, lượng lao động có trình độ và tri thức ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn. Nâng cao chất lượng, sự cạnh tranh của hàng hóa Nhờ có hệ thống máy móc, vi tính và quy trình sản xuất tự động hóa, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Không những vậy, thời gian sản xuất và chỉ phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công còn được tiết kiệm đáng kê, tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa. Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân KH&CN ngày càng xuất hiện nhiều và đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người.
Nhiều thiết bị hiện đại liên tục ra đời và cải tiến, giúp cho đời sống con người được tiện nghi hơn, an toàn hơn. Các thiết bị điện tử hiện nay thay thế lao động con người, tiết kiệm nhân lực, g1úp con người tập trung vào các công việc đầu óc. Một số sản phẩm được ứng dụng rộng rãi hiện nay bao gồm: điện thoại thông minh, máy tính xách tay, điều hòa, xe hơi, tàu điện ngầm, máy bay.Có thể lay vị dụ trong một số lĩnh vực: sự phát triển của y hoc cũng mang đến nhiều co hội được điều trị hon cho các bệnh nhân, nhiều loại bệnh hiện nay được phòng chống và điều trị đễ dàng so với các thập kỷ trước; nên nông nghiệp tiên tiên cũng cho ra đời các giông cây trông có năng 11 suất cao, chất lượng tốt, được khai thác, đóng gói bang các quy trình hiện dai, an toàn hơn so với quy trình sản xuất thủ công trước đây. Tổ chức khoa học và công nghệ Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Tổ chức KH&CN là tổ chức có chức năng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, triển khai và sản xuất thử nghiệm các sản phẩm KH&CN, hoặc thực hiện các dịch vụ KH&CN, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật.
Ở Việt Nam, tô chức KH&CN gồm các hình thức sau: - Các viện nghiên cứu, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm quan trắc và các hình thức khác do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định; - Các trường đại học, cao đăng, học viện công lập và tư nhân; - Các trung tâm, phòng thử nghiệm và hình thức khác do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định.