chương I Luật NSNN năm 2015 thì: ”Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của 11 các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh” [18, tr62]. Đặc điểm chi thường xuyên ngân sách nhà nước Đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét. Những chức năng vốn có của Nhà nước như: Bạo lực, trấn áp và tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế, xã hội đều đòi hỏi phải được thực thi cho dù có sự thay đổi về thể chế chính trị. Để đảm bảo cho Nhà nước có thể thực hiện được các chức năng đó, tất yếu phải cung cấp nguồn vốn từ NSNN cho nó.
Mặt khác, tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi bộ phận cụ thể thuộc guồng máy của Nhà nước phải thực hiện. Ví dụ: Cho dù nền kinh tế quốc dân đang trong thời kỳ hưng thịnh, hay suy thoái thì những công việc thuộc về quản lý hành chính tại mỗi cơ quan chính quyền vẫn cứ phải duy trì đều đặn và đầy đủ; có khác chăng là ở thứ tự ưu tiên trong giải quyết các công việc mà thôi; Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công cộng. Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nên tất yếu quá trình phân phối và sử dụng vốn NSNN luôn phải hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước đó. Nếu một khi bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên cho nó được giảm bớt và ngược lại.
Hoặc quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên của NSNN; Việc sử dụng kinh phí thường xuyên được thực hiện thông qua hai hình thức cấp phát bằng dự toán và cấp bằng lệnh chi tiền. Cũng như các khoản chi 12 khác của NSNN, việc sử dụng kinh phí thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả; Chi thường xuyên chủ yếu chi cho con người, sự việc nên nó không làm tăng thêm tài sản hữu hình của Quốc gia; Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển. Hiệu quả của nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước; Với đặc điểm trên cho thấy vai trò chi thường xuyên có ảnh hưởng rất quan trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của một Quốc gia [18,70]. Phân loại chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước Trong công tác quản lý NSNN, việc phân loại các khoản chi có ý nghĩa quan trọng.
Lựa chọn tiêu chí thích hợp để phân loại các khoản chi NSNN có tác dụng hỗ trợ cho việc phân tích, đánh giá một cách chính xác hiệu quả của từng loại chi, từ đó có thể đưa ra những định hướng những sửa đổi chính sách chi NSNN một cách hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí NSNN. Chi thường xuyên được phân loại theo các tiêu thức sau đây: 1. Căn cứ theo từng lĩnh vực chi Nếu phân loại theo tiêu thức này, thì nội dung chi thường xuyên của NSNN, bao gồm: Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn - xã. Hoạt động sự nghiệp văn - xã thuộc phạm vi chi thường xuyên của NSNN bao gồm nhiều loại hình đơn vị tham gia vào lĩnh vực này, như: các đơn vị sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo; sự nghiệp Y tế; sự nghiệp Văn hoá - Nghệ thuật; Thể dục - Thể thao; Thông tấn, báo chí; Phát thanh - Truyền hình; …, các đơn vị đó do Nhà nước thành lập và giao nhiệm vụ cho nó hoạt động.
Tuy nhiên, mức cấp kinh phí cho mỗi đơn vị là bao nhiêu lại tuỳ thuộc vào 13 nhiệm vụ mà mỗi đơn vị phải đảm nhận và cơ chế quản lý tài chính mà mỗi đơn vị thuộc hoạt động sự nghiệp văn - xã đã đăng ký áp dụng với cơ quan quản lý tài chính nhà nước và hiện đang có hiệu lực thi hành. Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước. Việc thành lập các đơn vị sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho hoạt động của mỗi ngành và phục vụ chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân là hết sức cần thiết. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, hầu như ngành nào cũng có một số đơn vị sự nghiệp kinh tế do ngành đó quản lý.
Tuy nhiên, kết quả do hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế này tạo ra không nhất thiết chỉ mang lại lợi ích riêng cho một ngành đó, mà nhiều khi lại là lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ví dụ: Các đơn vị sự nghiệp giao thông do ngành Giao thông quản lý, nhưng kết quả hoạt động của sự nghiệp giao thông là góp phần làm cho giao thông được thông suốt, an toàn lại là lợi ích chung cho rất nhiều ngành được hưởng. Những ví dụ tương tự như trên có thể thấy rất rõ ở hoạt động sự nghiệp của các ngành khác, như: Sự nghiệp nông nghiệp, thuỷ lợi, ngư nghiệp và lâm nghiệp; sự nghiệp khí tượng, thuỷ văn; sự nghiệp đo vẽ bản đồ; sự nghiệp định canh, định cư và kinh tế mới v.; Một bộ phận nguồn kinh phí để đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của đa số các đơn vị sự nghiệp kinh tế được hình thành thông qua số chi thường xuyên của NSNN và các đơn vị được cấp phát từ nguồn vốn của NSNN tại Kho bạc nhà nước. Bên cạnh đó, một bộ phận nguồn kinh phí do các đơn vị tự thu, được phép giữ lại để sử dụng và quản lý qua NSNN, như: các khoản phí, lệ phí và các khoản thu sự nghiệp khác.
Về thực chất, những khoản này vẫn phải tính vào cơ cấu chi thường xuyên của NSNN và được xử lý thông qua nghiệp vụ ghi thu - ghi chi vào NSNN của Kho bạc nhà nước. Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước. 14 Khoản chi này phát sinh ở hầu hết các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Bởi với chức năng quản lý toàn diện mọi hoạt động kinh tế, xã hội nên bộ máy quản lý nhà nước đã được thiết lập từ Trung ương đến địa phương và có ở mọi ngành kinh tế quốc dân.
Cụ thể là: Để thực hiện quyền lập pháp, bộ máy quản lý nhà nước được thiết lập ở cấp Trung ương có Quốc hội, cấp địa phương có Hội đồng nhân dân các cấp; Để thực hiện quyền hành pháp, bộ máy quản lý nhà nước được thiết lập ở cấp Trung ương có Chính phủ và các Bộ, ngành giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể. Ví dụ: Giúp Chính phủ quản lý nhà nước về Giáo dục - Đào tạo trên địa bàn cả nước, có Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giúp Chính phủ quản lý nhà nước về Y tế trên địa bàn cả nước, có Bộ Y tế v.; Để thực hiện quyền hành pháp, bộ máy quản lý nhà nước được thiết lập ở cấp địa phương có Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan giúp Uỷ ban nhân dân mỗi cấp đó thực hiện chức năng quản lý nhà nước về từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể, như: Sở Văn hoá - Thông tin giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về hoạt động Văn hoá - Thông tin trên địa bàn toàn tỉnh. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi và diện tích các loại đất đai sử dụng cho mục đích này.; Bộ máy quản lý nhà nước về tư pháp được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức của 02 cơ quan: Viện Kiểm sát và Toà án.
Hai cơ quan này cũng được tổ chức theo một hệ thống dọc từ Trung ương xuống đến tận các địa phương; Ngoài các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống công quyền như trên, trong điều kiện nước ta được xếp vào cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý nhà nước còn có tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức Chính trị - Đoàn thể - Xã hội, như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc, Hội 15 Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Tổng Liên đoàn lao động; Tất cả các cơ quan quản lý nhà nước như trên muốn tồn tại và hoạt động để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước thì về cơ bản phải trông cậy vào sự cấp phát nguồn kinh phí từ NSNN; đặc biệt có những cơ quan 100% kinh phí hoạt động là do NSNN đảm bảo (Đảng Cộng sản Việt Nam). Chi cho Quốc phòng - An ninh và trật tự, an toàn xã hội. Phần lớn số chi NSNN cho Quốc phòng - An ninh được tính vào cơ cấu chi thường xuyên của NSNN (trừ chi đầu tư XDCB cho các công trình quốc phòng, an ninh). Sở dĩ sắp xếp như vậy là do nhu cầu chi cho Quốc phòng - An ninh được coi là tất yếu và phải thường xuyên quan tâm khi còn tồn tại giai cấp, tồn tại Nhà nước ở mỗi quốc gia riêng biệt.
Như vậy, số chi cho binh sĩ, cho sĩ quan, cho vũ khí và khí tài chuyên dụng của các lực lượng vũ trang đều được tính vào chi thường xuyên của NSNN hàng năm. Chi khác: Ngoài các khoản chi lớn đã được sắp xếp vào 4 lĩnh vực trên, còn có một số khoản chi khác cũng được xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như: Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước, chi hỗ trợ quĩ Bảo hiểm xã hội, phần chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước v.