Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho học sinh lớp 12 theo tiếp cận tham gia Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho học sinh lớp 12 theo tiếp cận tham gia Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho học sinh lớp 12 theo tiếp cận tham gia. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH LỚP 12 CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH THEO TIẾP CẬN THAM GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho học sinh lớp 12 theo tiếp cận tham gia 1. Các nghiên cứu về kỹ năng xã hội và giáo dục kỹ năng xã hội Trong khuôn khổ của đề tài luận văn này, kỹ năng xã hội được nghiên cứu, như một nhóm kỹ năng sống, vì vậy đề tài của luận văn xem xét kỹ năng sống như những kỹ năng nền tảng của kỹ năng xã hội.
Ngay từ khi sinh ra, con người cần rất nhiều kỹ năng để tồn tại và phát triển, do đó việc rèn luyện kỹ năng sống cho con người đã phát triển từ rất sớm. Giáo dục kỹ năng sống đã trở thành một điều hết sức quan trọng đối với nhân loại trong quá trình giáo dục của loài người, đặc biệt khi xã hội ngày càng phát triển, khoa học công nghệ biến đổi không ngừng nhu cầu học tập của con người ngày càng cao thì đào tạo GD KNXH cho thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh phổ thông hiện nay là hết sức cần thiết. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỉ XX trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, điển hình là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ [2]. Những nghiên cứu về kỹ năng sống trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kỹ năng sống cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kỹ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do 6 UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về kỹ năng sống nêu trên. Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Có rất nhiều tác giả và nhà nghiên cứu về kỹ năng sống ở Việt Nam như GS.
TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc [17] với nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống và giá trị sống cho học sinh phổ thông; đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình “Thực trạng giáo dục KNS cho học sinh và đề xuất giải pháp giáo dục KNS cho học sinh”; tác giả Nguyễn Khắc Hưng và Đào Hoàng Nam viết“Xây dựng văn hóa trường học và trường học tích cực thân thiện với học sinh”; tác giả Nguyễn Công Khanh “Phương pháp trau dồi kỹ năng sống, giá trị sống”. Trong những năm gần đây chương trình đổi mới giáo dục 2018 đã rất chú trọng công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động tập thể, ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp và dạy lồng ghép trong các môn học khác… 1. Các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng xã hội và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội trong nhà trường. Theo Gresham và Elliot (1990), khái niệm kỹ năng xã hội (Social Skills) là những mẫu ứng xử tập nhiễm hay học được, được chấp nhận về mặt xã hội, giúp một cá nhân có thể quyết định hành động và ứng xử một cách có hiệu quả với người khác, đồng thời giúp người đó nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh, tránh được những phản ứng không được chấp nhận trong xã hội.
Đây là kỹ năng vô cùng cần thiết cho hoạt động sống và thích ứng xã hội của 7 mỗi học sinh, đồng thời góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách mỗi cá nhân. Riggio (1986) nhận thấy, các kỹ năng xã hội cơ bản thực sự có liên quan đến hiệu quả xã hội, chúng giúp những cá nhân sẽ thành công hơn trong các tương tác xã hội. Tác giả nghiên cứu bốn kỹ năng xã hội cơ bản là: biểu cảm cảm xúc, nhạy cảm cảm xúc, biểu cảm xã hội và nhạy cảm xã hội. Maag (1991) đưa ra quan điểm về giáo dục kỹ năng xã hội là một thành phần không thể thiếu trong chương trình giảng dạy của trường.
giáo dục kỹ năng xã hội được thực hiện với nhiều trẻ em ở nhiều môi trường khác nhau bao gồm bệnh viện hoặc phòng khám, cơ sở cải huấn và trường học. Các nhà tâm lí học ở trường thường đóng vai trò là nhà tư vấn cho các giáo viên. Nhiều quan điểm của các nhà giáo dục đối với hành vi xã hội cản trở việc khái quát hóa, và các chiến lược hợp tác được coi là chiến thuật để khắc phục vấn đề này. Theo tác giả, cơ sở lí luận để kết hợp các chiến lược giáo dục kỹ năng xã hội phát triển từ lí thuyết học tập xã hội của Bandura.
Theo Vũ Dũng (2015), kỹ năng xã hội là “năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”. Vì vậy, khi xem xét kỹ năng xã hội không chỉ phân tích về mặt kĩ thuật của hành động mà còn là xem xét năng lực trí tuệ, năng lực hành động kết quả. Học sinh THPT gồm các em lứa tuổi khoảng từ 15 - 18 tuổi. Khoa học gọi đây là lứa tuổi đầu thanh niên với những biến đổi mạnh mẽ về thể chất và tâm lí làm cho học sinh ý thức rằng “mình không còn là trẻ con nữa”.
Tác giả Nguyễn Công Khanh (2005) cho rằng: “Theo các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và một số nghiên cứu dịch tễ học trong nước thì có khoảng 10% - 20% trẻ em trong lứa tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông có rối nhiễu hành vi và có khó khăn học đường. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do kém thích nghi học đường mà trước hết là thiếu hụt kỹ năng xã hội”. Người Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá HS, sinh 8 viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn. Nội dung GDKNXH đã được tích hợp trong một số môn học và các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông, việc GD KNXH cho HS còn được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng tránh thương tích.
Đây chính là GD KNXH gắn với những nội dung, vấn đề cụ thể [5]. Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegal (2000) với sự đồng thuận của 180 quốc gia, Chương trình hành động Daar đã đề ra 6 mục tiêu mà mục tiêu 3 là “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GD KNS phù hợp”. Còn trong mục tiêu 6 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá KNS của người học”. Như vậy học KNS trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong KNS của người học cho nên GDKNS cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục các nước [5].
Tác giả Licona (1988) đề xuất 3 mục đích GDKNXH cho HS để các nhà quản lý tham khảo là: Khuyến khích phát triển tối đa những tài năng cá nhân, quan hệ hợp tác, những suy nghĩ tích cực; Nuôi dưỡng nhận thức, cảm xúc và hành động tích cực ở HS; Phát triển lớp học và trường học trở thành những cộng đồng mà ở đó mỗi cá nhân có thể phát triển tối đa.Barth (1993) cho rằng việc GDKNXH nên được khuyến khích phát triển, nhằm trang bị cho HS những kỹ năng cần thiết giúp các em tránh được những tình huống nguy hiểm và không mong muốn xảy ra đối với các em, giữ sự an toàn cho các em [5, tr. Tác giả Phạm Minh Huệ nghiên cứu ''Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Thành phố Thái Bình" đã đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh tại các trường THPT Thành phố Thái Bình được đánh giá cấp thiết khả thi; 9 Tác giả Nguyễn Văn Hà nghiên cứu “Quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh tại trường THPT Quan Lạn, Quảng Ninh”. Qua những đề tài trên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục và quản lý GD KNXH của hiệu trưởng tại các cơ sở giáo dục đào tạo khác nhau: Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các biện pháp quản lý, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của từng cơ sở giáo dục. Tuy nhiên cũng chưa có nghiên cứu nào về quản lý GD KNXH theo tiếp cận tham gia cho HS lớp 12 ở các trường THPT.
Đề tài nghiên cứu này không trùng lặp và rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm đề xuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý GD KNXH theo tiếp cận tham gia tại nhà trường. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Kỹ năng Trong cuộc sống, con người cần rất nhiều kỹ năng để đáp ứng với yêu cầu của xã hội, những kỹ năng cần thiết có thể kể đến như kỹ năng tư duy, phán đoán, sáng tạo, lắng nghe, đặt mục tiêu, giải quyết vấn đề hay các nhóm kỹ năng trong quan hệ như giao tiếp ứng xử, lãnh đạo, thương lượng, thuyết trình, làm việc nhóm… 1. Các quan niệm về kỹ năng Kỹ năng được xem là biểu hiện kỹ thuật của hành động Một số tác giả như A.
Chielop (1975), và tác giả Trần Trọng Thủy (1978) đưa ra định nghĩa kỹ năng là phương thức hành động.