Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh buộc phải vận hành theo cơ chế tự chủ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả hoạt động. Để tồn tại và phát triển trước áp lực cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới quy trình công nghệ, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, phương thức điều hành sản xuất và kiểm soát chi phí nhằm tạo ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường. Đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp được tác giả Nguyễn Thị Huyền Dương (sinh viên lớp QTKD10-Hà Nội, Khoa Kinh tế, Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I) thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên Trần Mạnh Hùng, tập trung nghiên cứu thực tiễn quản lý kinh tế và tổ chức sản xuất kinh doanh tại Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội (HAICATEX).
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của báo cáo bao gồm các nội dung trọng tâm:
- Hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển và chuyển đổi cơ chế hoạt động của Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội từ thời kỳ bao cấp sang kinh tế thị trường.
- Khảo sát, phân tích quy trình công nghệ sản xuất của 4 nhóm sản phẩm chủ lực (vải mành nhúng keo, vải bạt, vải không dệt, sản phẩm may) và đánh giá các thành tố công nghệ theo chuẩn mực quốc tế.
- Phân tích thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp và phòng ban chuyên môn.
- Đánh giá công tác hoạch định chiến lược kinh doanh dựa trên phân tích môi trường vĩ mô, môi trường ngành và nội lực doanh nghiệp; tổng hợp các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2004.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp, trọng tâm là công tác quản lý, phân loại và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ hệ thống quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất và quản trị doanh nghiệp tại Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội. Phạm vi không gian nghiên cứu đặt tại trụ sở và các phân xưởng sản xuất của công ty tại xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong đợt thực tập tốt nghiệp kéo dài 7 tuần (hoàn thành vào tháng 4 năm 2004), với chuỗi dữ liệu lịch sử và số liệu sản xuất kinh doanh trải dài từ năm 1967 đến các năm 2001, 2002, 2003 và kế hoạch năm 2004.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về khung lý thuyết, tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu thông qua hệ thống lý luận quản trị kinh doanh và kinh tế doanh nghiệp hiện đại:
- Lý luận về công nghệ: Sử dụng khung phân loại 4 thành phần công nghệ của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) gồm: Phần kỹ thuật/trang thiết bị (Technoware), phần con người/kỹ năng (Humanware), phần thông tin (Infoware) và phần tổ chức/quản lý (Organware); kết hợp quan niệm của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) về chu trình dự án công nghệ từ nghiên cứu khả thi, thiết kế, xây dựng, lắp đặt đến phát triển năng lực vận hành của người lao động.
- Lý luận về hoạch định chiến lược: Ứng dụng mô hình phân tích môi trường kinh tế quốc dân (các nhân tố kinh tế, pháp luật, công nghệ, văn hóa - xã hội, tự nhiên) và mô hình 5 lực lượng cạnh tranh ngành của Michael Porter (khách hàng, đối thủ hiện tại, đối thủ tiềm ẩn, nhà cung cấp, sản phẩm thay thế); vận dụng ma trận phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) để xác lập các nhóm chiến lược kết hợp.
- Lý luận về quản trị tài chính và vốn doanh nghiệp: Khái niệm, bản chất của vốn kinh doanh, phân loại vốn theo thời gian (ngắn hạn, trung và dài hạn), theo công dụng kinh tế (vốn cố định, vốn lưu động) và theo quyền sở hữu (nợ phải trả, vốn chủ sở hữu); hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khả năng sinh lời, cơ cấu tài sản - nguồn vốn và khả năng thanh toán.
- Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn áp dụng: Chỉ thị số 10 của Bộ Chính trị về đổi mới kinh tế; Luật Doanh nghiệp Nhà nước (trước đây là Luật Công ty); hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 (doanh nghiệp áp dụng từ năm 2002); lộ trình thực thi Hiệp định cắt giảm thuế quan CEPT/AFTA (năm 2006) và chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO năm 2005).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bằng phương pháp thu thập tài liệu thực tế tại các phòng ban chức năng (Phòng Tổ chức - Hành chính, Phòng Sản xuất - Kinh doanh - Xuất nhập khẩu, Phòng Kỹ thuật - Đầu tư, Phòng Tài chính - Kế toán); phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp so sánh kinh tế để đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu sản lượng, tài chính và năng lực sản xuất qua các thời kỳ.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong báo cáo gồm các báo cáo tổng kết sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính nội bộ, tài liệu kỹ thuật về quy trình sản xuất, số liệu thống kê nhân sự và tài liệu dự án đầu tư của HAICATEX giai đoạn 2001–2003 cùng các chỉ tiêu kế hoạch năm 2004.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Khái quát về Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội
Tiểu mục này tập trung làm rõ lịch sử hình thành, sự phát triển về năng lực sản xuất và quy trình công nghệ của công ty:
- Quá trình hình thành và phát triển: Năm 1967, trong bối cảnh chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, một cơ sở dệt chăn thuộc Liên hiệp Dệt Nam Định sơ tán về xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì, Hà Nội để sản xuất chăn chiên từ phế liệu bông sợi rối. Ban đầu, nhà máy gặp nhiều khó khăn do thiết bị nghèo nàn, nguyên liệu thất thường và liên tục thua lỗ. Giai đoạn 1970–1972, nhờ viện trợ của Trung Quốc, nhà máy lắp đặt dây chuyền sản xuất vải mành từ sợi bông cung cấp cho Nhà máy Cao su Sao Vàng sản xuất lốp xe đạp. Năm 1973, nhà máy lắp thêm dây chuyền sản xuất vải bạt, chuyển giao dây chuyền chăn chiên lại cho Liên hiệp Dệt Nam Định và đổi tên thành Nhà máy Dệt vải Công nghiệp Hà Nội.
- Sự tăng trưởng quy mô: Từ số vốn ban đầu chỉ 475.406 VNĐ (thời giá năm 1968) với 174 cán bộ công nhân viên (144 công nhân trực tiếp), đến năm 1988 tổng vốn đầu tư đạt trên 5 tỷ VNĐ (thời giá năm 1968), tổng sản lượng trên 10 tỷ VNĐ và quy mô lao động lên tới 1.079 người (986 công nhân trực tiếp). Năm 1988 đạt đỉnh cao tiêu thụ với 3,308 triệu m² vải mành và 2,8 triệu m² vải bạt. Ngày 28/8/1994, Bộ Công nghiệp quyết định đổi tên thành Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội (tên giao dịch quốc tế HAICATEX), là thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty Dệt - May Việt Nam.
- Đầu tư hiện đại hóa công nghệ năm 2002: Trước tình trạng vải bạt suy thoái và vải mành chịu cạnh tranh gay gắt từ hàng nhập ngoại, công ty đã triển khai ba dự án lớn trong năm 2002:
- Tháng 1/2002: Thay thế đầu cuộn vải dây chuyền nhúng keo với tổng mức đầu tư trên 2 tỷ đồng, khắc phục triệt để lỗi ngoại quan vải mành nhúng keo (lồi lõm, nhũn xốp), giảm 99% lỗi loại B và C.
- Tháng 9/2002: Đầu tư 2 máy xe sợi ALLMASAURER (CHLB Đức) và 1 máy dệt mành cao tốc PICANOL (Bỉ) với tổng vốn 21 tỷ đồng, tăng năng suất từ 5 đến 7 lần so với thiết bị cũ của Trung Quốc.
- Tháng 10/2002: Đưa vào vận hành dây chuyền sản xuất vải không dệt công nghệ xuyên kim tự động hóa hoàn toàn của tập đoàn DILO (CHLB Đức) với tổng vốn đầu tư 63 tỷ đồng, công suất thiết kế 10.000 m²/năm.
- Quy trình sản xuất 4 dòng sản phẩm chính:
- Vải mành nhúng keo: Nguyên liệu sợi PA, Nylon 6.6 nhập khẩu; qua các công đoạn xe lần 1, xe lần 2, sâu go, xe suốt, dệt mành, nhúng keo (sử dụng dung dịch VP latex, SBR latex và Resorcinol), kiểm tra và đóng gói thành phẩm (840D/1, 840D/2, 1260D/2) cung cấp cho Cao su Sao Vàng, Cao su Đà Nẵng, Cao su Miền Nam, Shinfa, Thời Ích, Fungkeong.
- Vải bạt: Chế xuất từ sợi cotton, PC, PE qua các khâu đậu sợi, xe suốt, đánh ống, lờ/dồn go, dệt, hoàn thiện, đóng kiện (các mã Bạt 3x3, Bạt 178, Bạt 3419).
- Vải không dệt: Sản xuất từ xơ PES, PP qua hệ thống máy xé trộn, máy trải, máy xếp chồng, hệ thống máy xuyên kim DILO, máy hoàn thiện và đóng gói (các mã HD130, HD180, HD200) phục vụ công trình giao thông (đường Cầu Rào - Đồ Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh, TP.HCM), đê kè thủy lợi và lót giầy.
- Sản phẩm may: Nhận hợp đồng may bảo hộ lao động cho Dệt 8/3, Honda, Lilama và may jacket xuất khẩu sang Hàn Quốc, Anh, Mỹ, EU (năm 2003 tăng 210% so với 2002).
- Cơ cấu tổ chức và lao động: Tính đến ngày 31/12/2003, tổng số CBCNV là 782 người (672 công nhân sản xuất trực tiếp, lao động nữ chiếm 75%). Trình độ đào tạo: Đại học và trên Đại học chiếm 6,5%; Trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng chiếm 6,79%; thợ bậc 6+7 chiếm 11,69%; thợ bậc 5 chiếm 20,69%; thợ bậc 3+4 chiếm 17,29%. Bộ máy tổ chức vận hành theo mô hình trực tuyến - chức năng gồm 2 cấp: cấp Công ty (Ban Giám đốc và 6 phòng ban: Kế toán - Tài chính, Tổ chức - Hành chính, Sản xuất - Kinh doanh - XNK, Kỹ thuật - Đầu tư, Bảo vệ quân sự, Dịch vụ đời sống) và cấp Xí nghiệp (gồm 4 xí nghiệp: Mành - Nhúng keo, Bạt, Vải không dệt, May).
| Chỉ tiêu nộp Ngân sách Nhà nước |
Năm 2001 |
Năm 2002 |
Năm 2003 |
So sánh 02/01 (%) |
So sánh 03/02 (%) |
| Nộp NSNN (triệu đồng) |
185 |
3.033 |
2.783 |
1.639,46% |
91,76% |
Phần II: Quản trị các hoạt động của doanh nghiệp
Chương I: Công tác hoạch định chiến lược của Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội
Chương này đi sâu phân tích môi trường hoạt động và định hình chiến lược phát triển của doanh nghiệp:
- Phân tích môi trường vĩ mô và vi mô: Môi trường kinh tế tăng trưởng kích thích nhu cầu hạ tầng giao thông và phương tiện, mở rộng thị trường cho vải địa kỹ thuật và vải mành lốp xe. Tuy nhiên, doanh nghiệp đối mặt với các rủi ro: nguyên vật liệu nhập khẩu phụ thuộc biến động tỷ giá và giá dầu mỏ; việc cắt giảm sản lượng lắp ráp xe máy làm giảm cầu vải mành; hàng lậu trốn thuế từ Trung Quốc; lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT/AFTA năm 2006 (thuế giảm về 0–5%) và gia nhập WTO năm 2005 gia tăng sức ép cạnh tranh.
- Phân tích nội bộ: Điểm mạnh của HAICATEX là sự hỗ trợ vốn và thị trường từ Tổng Công ty Dệt - May Việt Nam, sở hữu dây chuyền vải không dệt và dệt mành hiện đại duy nhất trong nước, uy tín thương hiệu lâu năm. Điểm yếu tồn tại ở chỗ: chất lượng lao động chưa cao (tỷ lệ đại học dưới 10%), công suất thiết bị chưa khai thác tối đa (năm 2003 thiết bị nhúng keo chỉ đạt 52% công suất, dây chuyền vải không dệt đạt 40%), nguyên liệu phụ thuộc nhập khẩu.
- Định hướng chiến lược kết hợp (SWOT): Đẩy mạnh thâm nhập thị trường nội địa, tận dụng tối đa công suất máy móc; tăng cường công tác Marketing và tìm kiếm thị trường ngách; đa dạng hóa sản phẩm; mở rộng xuất khẩu hàng may mặc sang Mỹ và EU; thực hiện tinh giản biên chế, đào tạo lại đội ngũ lao động và tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế trong nước để giảm giá thành.
- Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2004:
| Chỉ tiêu kế hoạch năm 2004 |
Đơn vị tính |
Giá trị kế hoạch |
| Giá trị sản xuất công nghiệp |
Triệu đồng |
92.000 |
| Tổng doanh thu trước thuế |
Triệu đồng |
120.000 |
| Lợi nhuận |
Triệu đồng |
500 |
| Tỷ suất Lợi nhuận / Vốn |
% |
4,0 |
| Các khoản nộp ngân sách |
Triệu đồng |
2.783 |
| Kim ngạch xuất khẩu (giá thanh toán) |
1.000 USD |
483 |
| Kim ngạch xuất khẩu (tính đủ NPL) |
1.000 USD |
2.700 |
| Kim ngạch nhập khẩu (giá tính đủ) |
1.000 USD |
4.500 |
| Vải dệt thoi thành phẩm |
m² |
20.000 |
| Vải mành |
Tấn |
990 |
| Vải bạt |
m |
880.000 |
| Vải không dệt |
m² |
5.000.000 |
| Sản phẩm may dệt thoi |
Sản phẩm |
364.000 |
| Khấu hao cơ bản |
Triệu đồng |
9.553 |
| Thu nhập bình quân đầu người |
Đồng/tháng |
800.000 |
| Tổng số lao động |
Người |
832 |
Chương II: Quản trị tài chính trong Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội
Chương này trình bày hệ thống lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp:
- Bản chất và vai trò của vốn kinh doanh: Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản doanh nghiệp nắm giữ, đại diện cho giá trị ứng ra ban đầu và tái đầu tư vào quá trình sản xuất. Vốn luôn gắn liền với chủ sở hữu, có giá trị theo thời gian và đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc sinh lời, bảo toàn và phát triển qua các chu kỳ tuần hoàn.
- Phân loại vốn sản xuất kinh doanh:
- Theo thời gian sử dụng: Vốn ngắn hạn (thời gian đáo hạn dưới 1 năm, giao dịch trên thị trường tiền tệ) và vốn trung - dài hạn (thời hạn trên 1 năm, chi phí vốn có phần bù kỳ hạn, giao dịch trên thị trường vốn).
- Theo công dụng kinh tế: Vốn cố định (hình thái biểu hiện là tài sản cố định hữu hình như máy móc, nhà xưởng và tài sản cố định vô hình có giá trị từ 500.000 đồng trở lên theo quy định thời điểm đó) và vốn lưu động (hình thái biểu hiện là tài sản lưu động trong dự trữ sản xuất và lưu thông).
- Theo quyền sở hữu: Nợ phải trả (vốn vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, tín dụng thương mại) và vốn chủ sở hữu (vốn góp ban đầu, lợi nhuận giữ lại, phát hành cổ phiếu).
- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn: Khái quát công thức tính các nhóm chỉ tiêu:
- Doanh thu và sinh lời: Khả năng sản xuất kinh doanh (Doanh thu / Vốn kinh doanh bình quân), Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu (Lợi nhuận ròng / Vốn chủ sở hữu), Hệ số sinh lời tài sản (ROA = [Lợi nhuận sau thuế + Lãi vay] / Tổng tài sản).
- Cơ cấu tài sản và nguồn vốn: Tỷ trọng TSCĐ, TSLĐ trên Tổng tài sản; Hệ số nợ trên Tổng tài sản; Hệ số nợ trên Vốn chủ sở hữu.
- Khả năng thanh toán: Khả năng thanh toán ngắn hạn (TSLĐ / Nợ ngắn hạn), Khả năng thanh toán dài hạn (TSCĐ / Nợ dài hạn), Khả năng thanh toán nhanh ([Tiền + Phải thu] / Nợ ngắn hạn), Khả năng thanh toán tức thời (Tiền / Nợ ngắn hạn).
Kết quả và đóng góp
Về mặt thực tiễn, báo cáo đã phản ánh một bức tranh toàn diện và hệ thống về sự chuyển mình của một doanh nghiệp dệt công nghiệp nhà nước:
- Phân tích chi tiết thành quả đầu tư công nghệ năm 2002 với tổng giá trị hơn 86 tỷ đồng cho 3 dự án lớn, đưa HAICATEX trở thành đơn vị đi đầu tại Việt Nam làm chủ dây chuyền vải không dệt DILO và dệt mành cao tốc PICANOL.
- Đánh giá đúng thực trạng khai thác thiết bị và lao động: chỉ ra các điểm nghẽn về tỷ lệ huy động công suất (dây chuyền nhúng keo mới đạt 52%, vải không dệt đạt 40%) và cơ cấu trình độ lao động (đại học và cao đẳng còn dưới 14%).
- Tổng hợp hệ thống số liệu kế hoạch sản xuất kinh doanh chi tiết năm 2004 với mục tiêu doanh thu 120 tỷ đồng, sản lượng vải không dệt 5 triệu m² và thu nhập bình quân 800.000 đồng/người/tháng.
Tác giả đã đề xuất các giải pháp quản lý kinh tế sát thực:
- Tập trung các biện pháp đẩy mạnh Marketing để giải phóng tối đa công suất máy móc hiện có, tìm kiếm các công trình giao thông và thủy lợi mới cho sản phẩm vải địa kỹ thuật.
- Đổi mới công tác nhân sự, chuẩn hóa tiêu chuẩn tuyển dụng, nâng cao tay nghề và xây dựng tác phong công nghiệp cho 75% lao động nữ trong công ty.
- Tinh giản bộ máy gián tiếp, nâng cao hiệu lực quản lý của mô hình trực tuyến - chức năng nhằm chuẩn bị năng lực cạnh tranh trước thềm hội nhập WTO và AFTA.
Đóng góp của báo cáo thể hiện ở việc kết nối nhuần nhuyễn giữa lý luận quản trị doanh nghiệp (ESCAP, UNCTAD, Michael Porter, tài chính doanh nghiệp) với thực tiễn sản xuất tại một đơn vị công nghiệp dệt may đặc thù.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do thời gian thực tập tốt nghiệp có giới hạn (7 tuần), nguồn dữ liệu tài chính chuyên sâu về báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng cân đối kế toán chi tiết từng quý chưa được thể hiện đầy đủ trong nội dung báo cáo.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá chi tiết cấu trúc chi phí sản xuất, tính toán hiệu quả tài chính sau đầu tư của các dự án máy móc năm 2002; xây dựng mô hình dự báo nhu cầu thị trường vải địa kỹ thuật và vải mành trong bối cảnh Việt Nam chính thức cắt giảm thuế quan theo CEPT/AFTA và gia nhập WTO.
Giá trị tham khảo
Báo cáo là tài liệu học thuật hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp công nghiệp, Kinh tế dệt may trong việc:
- Tham khảo phương pháp xây dựng báo cáo thực tập tốt nghiệp tổng hợp tại doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn.
- Khảo sát mô hình tổ chức bộ máy trực tuyến - chức năng và cách thức phân tích quy trình công nghệ kỹ thuật dệt công nghiệp (vải mành, vải địa kỹ thuật xuyên kim).
- Ứng dụng khung lý luận về quản lý công nghệ (Technoware, Humanware, Infoware, Organware) và ma trận SWOT vào phân tích thực tế một doanh nghiệp nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiền thân của Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội là đơn vị nào và được đổi tên chính thức vào năm nào?
Công ty có nguồn gốc từ một cơ sở dệt chăn thuộc Liên hiệp Dệt Nam Định sơ tán về xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì, Hà Nội vào năm 1967. Đến ngày 28/8/1994, Bộ Công nghiệp ra quyết định chính thức đổi tên Nhà máy Dệt vải Công nghiệp Hà Nội thành Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội (tên viết tắt là HAICATEX).
2. Ba dự án đầu tư thiết bị công nghệ lớn nhất của HAICATEX trong năm 2002 gồm những gì?
Năm 2002, công ty đưa vào vận hành 3 dự án: thay thế đầu cuộn vải dây chuyền nhúng keo (>2 tỷ đồng) vào tháng 1/2002; đầu tư 2 máy xe sợi ALLMASAURER (Đức) và 1 máy dệt mành PICANOL (Bỉ) trị giá 21 tỷ đồng vào tháng 9/2002; lắp đặt dây chuyền vải không dệt DILO (Đức) trị giá 63 tỷ đồng vào tháng 10/2002.
3. Cơ cấu trình độ lao động của HAICATEX tính đến ngày 31/12/2003 có đặc điểm gì nổi bật?
Tổng số CBCNV là 782 người (672 công nhân trực tiếp, nữ chiếm 75%). Trình độ chuyên môn gồm: Đại học và trên Đại học chiếm 6,5%; Trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng chiếm 6,79%; thợ bậc 6+7 chiếm 11,69%; thợ bậc 5 chiếm 20,69%; thợ bậc 3+4 chiếm 17,29%.
4. Bốn nhóm sản phẩm sản xuất chủ lực của công ty gồm những loại nào và phục vụ cho đối tượng nào?
Công ty sản xuất: (1) Vải mành cung cấp cho các công ty làm lốp xe như Cao su Sao Vàng, Cao su Đà Nẵng, Cao su Miền Nam; (2) Vải bạt dùng làm giầy quân đội, bạt phủ; (3) Vải không dệt (vải địa kỹ thuật HD130, HD180, HD200) làm đường chống lún, đê kè và lót giầy; (4) Sản phẩm may mặc bảo hộ lao động và áo jacket xuất khẩu sang Hàn Quốc, Anh, Mỹ, EU.
5. Các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh tổng quát của HAICATEX trong năm 2004 được xác định ra sao?
Kế hoạch năm 2004 đặt mục tiêu: Giá trị sản xuất công nghiệp 92.000 triệu đồng; Tổng doanh thu trước thuế 120.000 triệu đồng; Lợi nhuận 500 triệu đồng; Tỷ suất Lợi nhuận/Vốn 4,0%; Nộp ngân sách 2.783 triệu đồng; Sản lượng vải không dệt 5.000.000 m²; Vải mành 990 tấn; Lao động 832 người với thu nhập bình quân 800.000 đồng/người/tháng.
Kết luận
Báo cáo thực tập tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Huyền Dương đã cung cấp một bản phân tích toàn diện và có hệ thống về thực trạng quản lý kinh tế, công nghệ sản xuất, tổ chức nhân sự và hoạch định chiến lược tại Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội (HAICATEX) ở giai đoạn đầu những năm 2000. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết quản trị hiện đại với số liệu hoạt động thực tế, công trình làm rõ những thành tựu đổi mới công nghệ cũng như những thách thức về thị trường và hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp trước thềm hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho việc nghiên cứu quản trị doanh nghiệp sản xuất trong ngành dệt may Việt Nam.