phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 03 chương và 06 tiết. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PHI HÀNG KHÔNG 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý hoạt động kinh doanh phi hàng không 1. Khái niệm quản lý hoạt động kinh doanh phi hàng không và các khái niệm liên quan 1.
Khái niệm quản lý Quản lý (Management) là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người. Bất cứ nơi nào mọi người thành lập một nhóm xã hội, dù không chính thức hay chính thức, nhỏ hay lớn, bạn bè, gia đình hay các tổ chức, đoàn thể xã hội, bất kể mục đích, đều cần có sự quản lý. Khái niệm quản lý được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khoa học. Nó quan trọng đến mức tạo thành một khoa học hoàn chỉnh - khoa học quản lý.
Vì vậy, có nhiều cách xác định khái niệm quản lý. Các nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm từ nhiều góc độ với các khái niệm khác nhau. Theo quan điểm của C.Mác: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [29, tr.Lênin lại viết: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa” [29, tr. Hoạt động quản lý diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi tổ chức và tác động đến tất cả cá nhân trong xã hội.
Là hoạt động xã hội bắt nguồn từ bản chất cộng đồng, dựa trên sự phân công và hợp tác để hoàn thành công việc nhằm đạt được mục tiêu chung.Mác từng viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những 10 chức năng phát sinh từ vận động cá nhân và thực hiện những xuất khác với sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [30, tr. Harold Koontz coi quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp các nỗ lực của từng cá nhân để đạt được các mục tiêu của nhóm (tổ chức) [24]. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là tạo ra một môi trường nơi mọi người có thể đạt được các mục tiêu tập thể với mức tối thiểu về thời gian, tiền bạc, vật chất và sự không thỏa mãn cá nhân.
Đầu thế kỷ XX, Mary Parker Follett đã định nghĩa: quản lý là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác". Định nghĩa này nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh nghệ thuật của hoạt động quản lý, phản ánh qua việc tác động để khiến người khác thay mình làm công việc mà mình muốn. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng quản lý là một quá trình kĩ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn tác động tới hoạt động con người, nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. Xét về chức năng, quản lý là một hệ thống tổ chức.
Trên quan điểm hoạt động kinh doanh, các doanh nhân Mỹ cho rằng, quản lý là việc đầu tư nhân lực và tài sản vào các đơn vị năng động, có tổ chức nhằm đạt được mục tiêu, một mặt là làm sao đảm bảo sự hài lòng tối đa của người thụ hưởng, đồng thời mặt khác. để đảm bảo tinh thần và cảm xúc của các nhà tài trợ. Khi phân tích các khái niệm quản lý, các nhà nghiên cứu rất chú ý đến đối tượng của hoạt động quản lý. Quản lý là lấy con người làm chính, sử dụng kiến thức, đào tạo và kinh nghiệm của người lãnh đạo để hoàn thiện họ, nâng cao trình độ, năng lực, sửa chữa những khuyết điểm của họ.
Nỗ lực quản lý phụ thuộc vào sự hoàn thiện này và bản thân nó là thước đo của lãnh đạo. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa động từ quản lý, theo đó, quản 11 lý gồm hai yếu tố. “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định và “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Trong Giáo trình Khoa học quản lý của khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Báo chí và Tuyên truyền: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [26; tr.
Phạm Ngọc Thanh quan niệm: “Quản lý là một loại hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng những công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường” [48, tr. Theo quan điểm tâm lý, quản lý theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự ảnh hưởng có mục tiêu, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của chủ thể đối với các đối tượng của nó. Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có mục tiêu, có mục đích và có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, các yếu tố tham gia vào hoạt động, các yếu tố chỉ huy, kiểm soát, kết nối được tích hợp thành một thể thống nhất, để điều phối hoạt động của các bộ phận khác nhau. Các giai đoạn được thực hiện một cách hợp pháp nhằm đạt được các mục tiêu rõ ràng trong điều kiện môi trường thay đổi.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung quản lý được hiểu là “sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra” [26, tr. Chủ thể quản lý là cá nhân hoặc tổ chức - người đại diện có quyền lực và trách nhiệm liên kết, phối hợp hoạt động của mỗi cá nhân để đạt được mục tiêu chung nhằm đạt được một kết quả nhất định trong quản lý. Đối tượng được quản lý chịu tác động trực tiếp của chủ thể được quản lý. Căn cứ vào các loại đối tượng khác nhau, người ta chia thành các loại hình quản lý khác nhau.
12 Mục tiêu quản lý là mục tiêu mà chủ thể quản lý cần đạt được trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là cơ sở để chủ thể quản lý triển khai các hành động quản lý và lựa chọn phương pháp quản lý phù hợp. Khái niệm kinh doanh và hoạt động kinh doanh Kinh doanh là hoạt động gắn liền với tiến trình tồn tại và phát triển của con người, đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Hoạt động kinh doanh không chỉ mang lại lợi ích cho chính nhà đầu tư, mà còn cho cả xã hội, người dân và nhà nước.
Vì vậy, kinh doanh được xem là một quyền hiến định, được pháp luật bảo hộ và khuyến khích. Pháp luật ở nhiều nước trên thế giới sử dụng thuật ngữ “commerce” (kinh doanh/thương mại) theo nghĩa rộng dùng để chỉ một cách tổng hợp các hoạt động sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Đồng thời có sự phân biệt với thuật ngữ “trade” để chỉ riêng hoạt động mua bán hàng hóa thuần tuý. Khoản 21 Điều 04 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về kinh doanh như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” [39].
Vì vậy, không giống như các hành vi dân sự thuần túy khác (bao gồm cả trao đổi, cung cấp dịch vụ), mục tiêu chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận. Đối với một doanh nghiệp, lợi nhuận được tạo ra khi số tiền doanh nghiệp thu được (doanh thu) lớn hơn số tiền doanh nghiệp phải trả (chi phí kinh doanh), số tiền bán được trừ đi các khoản chi phí bằng lợi nhuận. Bất kỳ hoạt động nào, ngay cả khi nó trông giống như một hoạt động kinh doanh, mà mục tiêu không phải là sinh lợi, thì không phải là một hoạt động kinh doanh. Theo quy định của pháp luật, mục đích của hoạt động kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, nhưng có hay không có lợi nhuận không quan trọng trong việc xác định hành vi kinh doanh.
Trong nhiều trường hợp, sản xuất kinh doanh bị thiệt hại, nhưng vẫn là kinh doanh. Dưới góc độ pháp lý, khi xác định hành vi 13 kinh doanh, chúng ta quan tâm đến việc có mục tiêu lợi nhuận hay không chứ không phải làm thế nào để đạt được mục tiêu đó. Từ khái niệm kinh doanh, chúng ta có thể hiểu hoạt động kinh doanh bao gồm tất cả các hoạt động mà mục đích chính là lợi nhuận. Đây là một thuật ngữ chung bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế mà một công ty tiến hành trong quá trình kinh doanh của mình.
Mục đích của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận và mục tiêu lợi nhuận của tổ chức, doanh nghiệp. Các hoạt động kinh doanh được tổ chức, thực hiện đa dạng ở nhiều loại thể chế có tổ chức. Các bộ phận đều có vai trò chức năng riêng tuy nhiên lại thống nhất, kết hợp bền chặt cùng thực hiện mục tiêu kinh doanh cuối cùng là mang lại doanh số, doanh thu cho công ty, doanh nghiệp, tập đoàn… 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh phi hàng không Hàng không là một thuật ngữ chỉ việc sử dụng máy bay, máy móc hoặc thiết bị nhân tạo có thể bay (bao gồm cả ngoài không gian).
Thuật ngữ này cũng mô tả các hoạt động, ngành công nghiệp liên quan đến máy bay, máy móc và dụng cụ bay. Kinh doanh hàng không là dịch vụ liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác tàu bay, khai thác vận tải hàng không và hoạt động bay. Theo điểm b khoản 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2014, kinh doanh phi hàng không là “những dịch vụ được cung ứng tại cảng hàng không, sân bay, trên tàu bay, nhưng không phải dịch vụ hàng không” [37].