Chương 1: Lý luận về tổ chức quản lý hợp tác xã và pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã. Chương 2: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã và thực tiễn áp dụng tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về tổ chức quản lý Hợp tác xã. 5 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ 1.
Khái niệm về tổ chức quản lý hợp tác xã 1. Khái niệm hợp tác xã Hợp tác là nhu cầu tất yếu đã có từ xa xưa, khi loài người phải đoàn kết hợp lực với nhau để phòng chống thiên tai địch họa, bảo vệ sản xuất, bảo vệ cộng đồng. Đoàn kết là hợp lực, là hợp tác lao động trong quá trình sản xuất, về vật tư tiền vốn và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Cuộc sống đòi hỏi phải hợp tác.
Chính vì vậy, mà các loại hình hợp tác đã xuất hiện. Hợp tác theo phường hội, theo địa vực làng xã, theo dòng tộc. Công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp ở nước ta bắt đầu từ cuối những năm 1950. Những năm trước đây trong hoàn cảnh đất nước vừa hòa bình, vừa chiến tranh, với những yêu cầu đặc biệt, hợp tác xã đã đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nay trong điều kiện và hoàn cảnh mới, các hợp tác xã kiểu cũ đã có những điểm không còn phù hợp, đòi hỏi phải đổi mới. Do đó những quy định của pháp luật về hợp tác xã cũng cần đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Hợp tác xã là một mô hình tổ chức kinh tế phổ biến từ lâu và được khuyến khích phát triển ở Việt Nam, tồn tại song hành cùng với các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam. Có nhiều quan niệm về hợp tác xã, có thể kể đến như: Hợp tác xã là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu và được điều hành bởi một nhóm các cá nhân vì lợi ích chung của họ.
Hợp tác xã được Liên minh quốc tế hợp tác xã định nghĩa là “một hiệp hội tự trị của những người đoàn kết tự nguyện để đáp ứng nhu cầu chung của kinh tế, xã hội và văn hóa và nguyện vọng thông qua các doanh nghiệp đồng sở hữu và kiểm soát dân chủ”. Hợp tác xã cũng có thể được định nghĩa là một doanh nghiệp thuộc sở hữu và thuộc quyền kiểm soát của những người sử dụng dịch vụ do HTX cung cấp hoặc của những người làm việc ở đó. Khía cạnh khác nhau liên quan đến HTX là trọng tâm của nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế HTX. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội Liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) lần thứ 31 tổ chức tại Manchester - Vương quốc Anh đã định nghĩa về HTX 6 như sau: “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ”1.
Đến năm 1995, khái niệm này đã được hoàn thiện thông qua tuyên bố: HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo Tổ chức Lao động quốc tế định nghĩa: HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung. Theo Luật HTX Indonesia định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế của nhân dân mang tính xã hội, gồm những người hoặc những hợp tác xã ở địa phương là thành viên lập nên một hệ thống kinh tế như là nỗ lực chung đặt trên nguyên tắc cơ sở của tình anh em” Theo Luật HTX Philipin định nghĩa: “Hợp tác xã là sự hiểu biết của những người có cam kết chung và tập hợp nhau lại một cách tự nguyện để đạt được mục đích xã hội hoặc kinh tế chung, có sự đóng góp công bằng về vốn và chấp nhận phần đóng góp hợp lý vào công việc và phần lợi ích của việc kinh doanh theo nguyên tắc hợp tác xã đã được chấp nhận chung”. Như vậy, HTX đã được định nghĩa trong nhiều Luật HTX của nhiều quốc gia, nhiều văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế.
Các định nghĩa nêu trên đã thể hiện rõ những đặc tính chung của HTX, đó là: - Hợp tác xã là sự liên kết của những người tham gia, cùng góp tiền dưới dạng vốn góp. Trong HTX nhấn mạnh yếu tố con người chứ không phải số vốn mà họ góp. - Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế đặc thù chứ không phải là một công ty cổ phần hoặc một tổ chức từ thiện. HTX là một tổ chức kinh doanh 1.
Quy định pháp luật của các nước về hợp tác xã. 7 gắn chặt với hiệu quả và sự rủi ro. Những thành viên hay những người góp vốn vào HTX có lợi ích chung và nhu cầu chung mà họ muốn được thỏa mãn. - Hợp tác xã là doanh nghiệp được quản lý theo nguyên tắc dân chủ.
Mỗi xã viên chỉ có một phiếu biểu quyết không phụ thuộc vào số vốn góp nhiều hay góp ít. - Khẩu hiệu của HTX là phục vụ hơn là kiếm lời. Tuy lợi nhuận luôn gắn với HTX, nhưng mục đích chính của HTX vẫn là phục vụ (phục vụ các xã viên) và phục vụ tối đa là nhiệu vụ hàng đầu của HTX. - Phương châm chủ đạo của Hợp tác xã là giúp đỡ lẫn nhau và tự mình giúp mình.
- Một trong những nguyên tắc cơ bản của HTX là tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Lợi nhuận được phân phối không chỉ căn cứ vào vốn góp mà còn căn cứ mức độ sử dụng dịch vụ của các xã viên. - Mục tiêu nhằm vào sự thay đổi địa vị kinh tế - xã hội của các xã viên. - Một đặc tính quan trọng nữa của HTX là không chỉ nâng cao kinh tế cho các xã viên mà còn phục vụ cộng đồng.
Ở Việt Nam, hợp tác xã có bản chất là mô hình liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững, trên cơ sở đó tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp HTX. Luật HTX năm 2003 đã đưa ra khái niệm: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi số vốn Điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác hợp pháp của hợp tác xã theo quy định của pháp luật”. Đến Luật HTX 2012 (khoản 1 Điều 3), HTX được định nghĩa là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản 8 xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã2.
Như vậy, Luật HTX năm 2012 đã kế thừa và phát triển quy định của Luật HTX năm 2003, trong đó tiếp tục khẳng định HTX là một tổ chức kinh tế. Bên cạnh hoạt động kinh tế tự chủ giống các doanh nghiệp, HTX còn có chức năng tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên tham gia HTX. Đặc điểm của hợp tác xã Với đặc trưng là tổ chức vừa hoạt động phát triển kinh tế vừa đảm bảo vai trò xã hội sâu sắc, HTX có các đặc điểm như sau: Thứ nhất: HTX là tổ chức kinh tế, có tính chất của tổ chức xã hội. Hợp tác xã có vốn hoạt động do các xã viên đóng góp và từ các nguồn khác theo quy định của pháp luật; có quyền tự chủ về tài chính cũng như mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động, HTX cũng phải thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi đảm bảo có lãi để phục vụ lợi ích của các xã viên, đồng thời duy trì sự tồn tại và phát triển của HTX. Tuy là tổ chức kinh tế, nhưng HTX còn hoạt động vì mục đích xã hội. HTX là hình thức tổ chức kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, vốn ít, tạo điều kiện cho các đối tượng này tham gia làm kinh tế, cũng như giải quyết thêm việc làm và nâng cao đời sống cho chính các xã viên HTX. Thứ hai: HTX là tổ chức kinh tế tự chủ, có tư cách pháp nhân.
Điều đó được hiểu HTX chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính theo chế độ trách nhiệm hữu hạn. Là tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể HTX cũng có đầy đủ các điều kiện của một pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự. HTX được thành lập và hoạt động theo Điều lệ riêng do chính các xã viên xây dựng trên cơ sở Điều lệ của HTX. Bản Điều lệ HTX phải có đầy đủ nội dung chủ yếu theo quy định tại Điều 12 Luật HTX.
HTX là một chủ thể kinh tế độc lập, nhân danh chính mình thực hiện mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về những rủi ro trong quá trình hoạt động. Hợp tác xã cũng hưởng quy chế trách nhiệm hữu hạn trong việc thanh toán nợ, đặc biệt là khi bị tuyên bố phá sản.