Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong lịch sử phát triển giáo dục, ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục lỗi lạc và tiêu biểu của nhân loại đã nhận ra tầm quan trọng của tự học. Song trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Trên thế giới Từ xa xưa, Khổng Tử (551-479 TCN) - nhà tư tưởng và nhà sư phạm nổi tiếng của Trung Quốc khi đề cập đến việc học tập, Khổng Tử xác định “Học nhi thời tập chí”, việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt những điều đã học.
Ông nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư duy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một vấn đề: “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”[35, tr. Ông cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩa là không học thì khó nhọc, mất công. Do vậy, với ông việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau. Thời cận đại, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J.
Komenxky (1592 - 1670) đã khẳng định:“Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng”; và “ Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…, hãy tìm ra phương pháp cho giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhi u hơn”.40] Tsunesaburo Makiguchi (1871 -1944), nhà giáo dục nổi tiếng người Nhật Bản cho rằng: “Mục đích của giáo dục không phải là truy n đạt tri thức. Nhiệm vụ của nó là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh”.19] Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm “Sự học tập do người học chủ đạo”. Trong hệ thống dạy học, người học vừa là chủ thể, vừa là mục đích của quá trình học tập: “ Vị trí của người học ở trung tâm hay ngoại biên là nét đặc trưng phân biệt hệ thống giáo dục này với hệ thống giáo dục khác.” [47] Trong dự thảo báo cáo về con người của thế kỉ XXI, các Nhà giáo dục và nhân văn châu Âu, châu Mĩ, châu Á đều có quan điểm thống nhất: xem thái độ và kĩ 6 năng ứng dụng của giới trẻ sẽ biết được diện mạo của cả lớp trẻ trong tương lai và cả gương mặt của cả xã hội ngày mai. Trong đó, các tác giả đã đưa ra bốn thái độ học tập và mười kĩ năng ứng dụng học vấn vào đời sống xã hội, một trong mười kĩ năng đó là: Kĩ năng tự học, tự nâng cao trình độ cá nhân trong mọi tình huống.
Quan niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cánh cửa bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề tự học đã có từ xa xưa. Thời phong kiến, thầy đồ dạy học thường kèm một nhóm học sinh gồm nhiều đối tượng có trình độ khác nhau. Các thầy đã chú ý trình độ, đặc điểm lứa tuổi, hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục, tính cách từng đối tượng để giảng dạy phù hợp, dưới sự hướng dẫn của thầy, người học tự chiếm lĩnh kiến thức.
Tuy nhiên, hoạt động tự học chỉ thực sự được chú ý và quan tâm dưới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam là một tấm gương sáng ngời về ý chí, quyết tâm trong tự học, tự rèn luyện. Có nhiều bài phát biểu, bài viết trong những thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác dụng và hiệu quả to lớn của việc học tập và rèn luyện. Bác cho rằng học tập giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động.
Đặc biệt, Bác rất nhấn mạnh đến tác dụng của tự học. Ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác viết: "Lấy tự học làm cốt, do thảo luận và chỉ đạo góp vào”[41, tr. Như vậy, theo Bác việc tự học giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết quả học tập. Việc tự học phải xuất phát từ động lực của chính bản thân người học, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần sự chỉ đạo hướng dẫn của nhà trường, của người thầy.
Trong khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu rất công phu về vấn đề tự học như: “Quá trình dạy-tự học” do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên [52]; “ Tự học- chìa khoá vàng của giáo dục” của Phan Trọng Luận[37]. Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, nhà giáo dục học khác như Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt [43], Hà Thị Đức [19], Thái Duy Tuyên [56] đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học, biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự học, hình thành kĩ năng tự học. Tác giả Lê 7 Khánh Bằng đã đưa ra một số biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. [3] Trong tác phẩm “ Tự học – một tư tưởng lớn của Hồ Chủ Tịch về dạy học”, Nguyễn Hoàng Yến đã khái quát tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học như sau : 1.
Trong tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn. Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời. Muốn tự học thành công phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại. Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học.
Học đến đâu, ra sức luyện tập, thực hành đến đó [60]. Trong những năm gần đây, nhiều luận văn tốt nghiệp đại học và sau đại học cũng đã nghiên thực trạng hoạt động tự học của sinh viên hệ đào tạo, các nhà truờng khác nhau và đề xuất những biện pháp quản lý tăng cường hiệu quả hoạt động tự học. Như vậy, vấn đề tự học của học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học, biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự học, hình thành ở người học kỹ năng tự học.
Đồng thời cũng đề ra một số biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, về phương diện quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường CĐSP Hà Nam thì hiện nay chưa có tác giả nào đề cập đến. Do đó, đề tài tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận của hoạt động tự học, thực trạng quản lý hoạt động tự học tại trường CĐSP Hà Nam, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng tự học của sinh viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ. Những khái niệm cơ bản của đề tài Để xác định rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, chúng ta sẽ tìm hiểu nội hàm của một số khái niệm có liên quan đến đề tài.
Khái niệm quản lý Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động. Các Mác đã khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên quy mô rộng lớn, ở mức độ nhi u hay ít đ u cần đến quản lý”.[38]Do vậy, có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau. Khi lao động xã hội đạt tới một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một chức năng riêng biệt. Từ đó trong xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên quản lý.
Và mối quan hệ giữa hai bộ phận này chính là mối quan hệ quản lý. Như vậy, quản lý là một khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực khác nhau, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn. Có nhiều cách tiếp cận quản lý khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận, có những cách định nghĩa khác nhau: Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là: “tổ chức, đi u khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. [59] Theo Harold Koontz: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, ti n bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có thể tổ chức v quản lý là một khoa học".33] Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí (người quản lí hay tổ chức quản lý) đến khách thể (đối tượng) quản lí v các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và đi u kiện cho sự phát triển của đối tượng”.7] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”[44, tr.