phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trƣờng THPT. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trƣờng THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trƣờng THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TRƢỜNG THPT 1.
Tổng quan nghiên cứu Vai trò nhà trƣờng đối với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, chính là thực hiện chức năng giáo dục học sinh bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, song vấn đề đặt ra là thực hiện chức năng này nhƣ thế nào? Nội dung giáo dục cái gì? Phƣơng pháp giáo dục thế nào? để mỗi học sinh hiểu đƣợc bản sắc văn hoá của dân tộc mình ngay chính trên mảnh đất mình sinh ra và lớn lên phù hợp với những cái riêng của mỗi vùng văn hoá, mỗi tộc ngƣời trong đa dạng văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì chƣa có đề tài, công trình nghiên cứu nào đề cập đầy đủ, hệ thống và toàn diện. Thực hiện chức năng giáo dục này, nhà trƣờng đóng vai trò quan trọng, song hiểu biết về: Cơ sở văn hoá, bản sắc văn hoá, các giá trị văn hoá truyền thống… của đội ngũ giáo viên chƣa đủ để nhà trƣờng hoàn thành tốt chức năng này. Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngƣời đầu tiên khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam đã kết hợp một cách đúng đắn, sáng tạo giữa tinh hoa văn hóa phƣơng Đông và phƣơng Tây, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Ngƣời đã rất nhiều lần nhấn mạnh việc giáo dục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống của các dân tộc Việt Nam.
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt đƣợc trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hƣởng nô dịch của văn hoá đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng”[19,tr. Chủ trƣơng trên đây thể hiện rõ ràng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giá trị văn hoá dân tộc. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề này là một kho tàng lý luận có tính thực tiễn vô giá để lại cho 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đảng và nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong công cuộc hội nhập và thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc hiện nay. Vào thời kỳ đất nƣớc đổi mới, nhất là những năm gần đây có nhiều công trình, đề tài khoa học, hội thảo khoa học về lĩnh vực văn hóa đã công bố liên quan đến đề tài với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.
Tác giả Trần Văn Giàu với "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" (NXB KHXH, HN, 1980). Tác giả Trần Ngọc Thêm, với tác phẩm: "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam"(NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2001); „’Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD,1997‟‟ đã cung cấp những kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng cho ngành văn hóa học. Tác phẩm "Bản sắc văn hóa Việt Nam" của tác giả Phan Ngọc (NXB Văn học, 2002) .Tác giả Trần Mạnh Thƣờng có tác phẩm "Việt Nam văn hóa và giáo dục – NXB VH-TT, 2010.; Tác giả Mùa A Sùng (Phó Ban Dân vận tỉnh Điện Biên) với báo cáo chuyên đề “Nghiên cứu tập tục tín ngưỡng của dân tộc Mông trên địa bàn tỉnh Lai Châu”; Tác giả Nguyễn Trung Hoà (Trung tâm nghiên cứu phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi) với tham luận: “Tri thức bản địa bảo tồn và phát triển chữ, tiếng Thái vùng Tây Bắc”. Bên cạnh đó cũng có đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Lệ Thanh "Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Điện Biên" (2014).
Đề tài "Nhà trường với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên" của sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên (2012). Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó. Cũng có một số công trình nghiên cứu về việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hội nhập. Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Lệ Thanh cũng đã đề cập đến vấn đề quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn BSVH dân tộc song đối tƣợng ở các trƣờng Phổ thông Dân tộc Nội trú còn đối với các trƣờng THPT có nhiều học sinh là DTTS và cả dân tộc Kinh thì chƣa có đề tài nào đề cập.
Vì vậy đề tài này, tác giả hƣớng tới các trƣờng THPT có nhiều học sinh DTTS đan xen với đó là dân tộc Kinh sẽ giúp các em hiểu rõ về văn hóa của các dân tộc với nhau trên địa bàn tỉnh. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lí Quản lý là từ Hán Việt đƣợc ghép giữa từ “quản” và từ “lý”.
Quản là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. Lý là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Nhƣ vậy, quản lý là trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển. Trong khoa học quản lí, khái niệm “quản lí” đƣợc coi là một trong những khái niệm công cụ đặc biệt quan trọng.
Vì thế, từ xƣa đến nay, từ phƣơng đông đến phƣơng tây, các nhà khoa học quản lí đã đƣa ra nhiều khái niệm về quản lí. Có thể kể đến một số khái niệm tiêu biểu sau: Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô (1977), “Quản lí là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kĩ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chƣơng trình, mục đích hoạt động” (29, tr.Taylor thì cho rằng quản lý là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí viết: "Quản lý là hoạt động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức"[4Lý luận QLGD và QL nhà trƣờng - Trƣờng CBQL GD&ĐT TW1 Hà Nội 1998. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến” [5 Những khái niệm cơ bản về QLGD ].
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung" [6 Những vấn đề cơ bản về QLGD]. Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: quản lý là hoạt động đƣợc tiến hành trong một tổ chức; với các tác 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động có tính hƣớng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Nhƣ vậy, quản lý một tổ chức là sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu đề ra. Nhƣ vậy, khái niệm quản lý bao hàm các khía cạnh: Hệ thống quản lý gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tƣợng quản lý.
Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tƣợng quản lý và ngƣợc lại. - Trả lời đƣợc câu hỏi: ai quản lý? Thì đó là chủ thể quản lý. Do đó, chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do ngƣời cụ thể lập nên. Cá nhân làm chủ thể quản lý đƣợc gọi chung là CBQL.
Ví dụ ở bình diện vĩ mô toàn cầu là Tổng thƣ ký Liên hợp quốc; ở trong một nƣớc là Tổng thống hoặc Thủ tƣớng; ở trong một ngành là Bộ trƣởng. ở bình diện vi mô một doanh nghiệp là giám đốc; ở một nhà trƣờng là hiệu trƣởng. - Trả lời đƣợc câu hỏi: Quản lý ai? Quản lý cái gì? Quản lý sự việc gì? thì đó là đối tƣợng quản lý. Do đó, đối tƣợng quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức hoặc có thể là một vật thể (cỗ máy, kho tàng.) hoặc có thể là sự việc (luật lệ, quy chế.
Khi đối tƣợng quản lý là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đƣợc con ngƣời đại diện có thể trở thành chủ thể quản lý cấp dƣới thấp hơn theo hệ thống cấp bậc. Ví dụ: Chủ tịch quận là đối tƣợng quản lý của chủ tịch thành phố nhƣng chủ tịch quận lại là chủ thể quản lý của chủ tịch phƣờng. Điều đó có nghĩa là khi nói chủ thể hay đối tƣợng quản lý là ngƣời hoặc tổ chức đƣợc con ngƣời đại diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể. Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tƣơng hỗ nhau.
Chủ thể quản lý nẩy sinh các động lực quản lý, còn khách thể quản lý thì làm nẩy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con ngƣời, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến đối tượng quản lý như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế hoạch.