CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Sự nghiệp giáo dục đào tạo ngay từ khi ra đời, Bác Hồ đã đặt nền móng cho sự nghiệp phát triển giáo dục với phương châm: "Dân tộc - Khoa học - Đại chúng". Chủ trương trong việc giáo dục là phải chú trọng: "Đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCH, giáo dục văn hoá, kỹ thuật và lao động sản xuất". Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong những năm học gần đây ngày càng được phát triển và mở rộng, nội dung ngày càng phong phú, hình thức da dạng và được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.
Giang Thị Khuyên [11] với nghiên cứu “Thực trạng quản lý HĐGDNGLL ở trường Tiểu học miền núi huyện Mai Châu - tỉnh Sơn La”, đã chỉ ra một số biện pháp tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh Tiểu học có hiệu quả như bồi dưỡng nhận thức, kỹ năng hướng dẫn tổ chức quản lý HĐGDNGLL cho đội ngũ cán bộ, giáo viên; tăng cường công tác thi đua khen thưởng, chăm lo xây dựng, quản lý cơ sở vật chất; kiểm tra đôn đốc việc thực hiện, phối hợp các lực lượng tham gia tổ chức. Nguyễn Dục Quang [20] đã tập trung nghiên cứu các mặt của HĐGDNGLL với việc xác định mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của nó đối với việc hình thành phát triển các phẩm chất nhân cách, đạo đức, củng cố, nâng cao kiến thức văn hóa cho học sinh. Tác giả cũng đã đưa ra các hình thức, nội dung HĐGDNGLL phương thức tổ chức linh hoạt mềm dẻo sát với thực tiễn các trường phổ thông. Đinh Xuân Huy [10] nghiên cứu các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của người hiệu trưởng ở trường phổ thông Dân tộc Nội trú - tỉnh Lai Châu đã khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức các HĐGDNGLL với việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường phổ thông dân tộc nội trú.
Tác giả đã xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động này của người Hiệu trưởng 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong trường phổ thông dân tộc nội trú như: Bồi dưỡng nhận thức, năng lực cho đội ngũ giáo viên; cải tiến công tác quản lý; hướng dẫn; phối hợp các lực lượng tham gia vào HĐGDNGLL ở trường THPT dân tộc nội trú. Phạm Hoàng Gia [3] đã dùng phiếu mẫu điều tra, nêu 30 loại cộng việc, gồm 57 dạng hoạt động cụ thể, phân thành các nhóm: Hoạt động học tập, hoạt động vui chơi - giải trí, hoạt động xã hội, hoạt động năng khiếu cá nhân. Nguyễn Văn Thiềm [18] cho rằng chất lượng giáo dục học sinh ở nhà trường giảm sút một phần là do việc giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng; sự phối hợp giữa các lực lượng bị coi nhẹ cho nên phải có sự phối hợp hoạt động nhà trường với địa bàn dân cư. Vấn đề quản lý HĐGDNGLL cũng đã được đề cập tới trong một số luận văn thạc sĩ nhưng chủ yếu về hoạt động quản lý của Hiệu trưởng đối với học sinh các cấp.
Chúng tôi cũng sẽ nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL của người hiệu trưởng trên một đối tượng quản lý khác là học sinh trường THPT Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Một số khái niệm công cụ 1. Khái niệm Quản lý Khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học định nghĩa một cách khác nhau: Tác giả Hà Sĩ Hồ [5]: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về thực trạng của đối tượng và môi trường, nhằm cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”. Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ [9] cũng cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục đích, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Văn Lê [13] lại cho rằng: “Quản lý không chỉ mang tính khoa học, mà còn mang tính nghệ thuật”. Cũng như các tác giả khác ông cho rằng mục đích của công việc quản lý chính là nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra. Ông viết: “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”.
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” tác giả Harold Kontz [12] viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Như vậy, khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu và phân tích bằng nhiều cách khác nhau nhưng về cơ bản có những điểm chung như: Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả của những người cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức. Quản lý là những tác động có mục đích lên một tập thể người, thành tố cơ bản của hệ thống xã hội.
Quản lý là các hoạt động thực tiễn nhằm đảm bảo hoàn thành các công việc qua những nỗ lực của người khác. Tóm lại: Quản lý là có sự tác động có định hướng, có tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan. Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự biến động không ngừng của nền kinh tế - xã hội, quản lý được xem là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế - xã hội (vốn - nguồn lực lao động - Khoa học kỹ thuật - tài nguyên và quản lý) trong đó quản lý đóng vai trò quyết định của sự thành bại của công việc. Hoạt động quản lý tồn tại với 3 yếu tố cơ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản đó là “Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý".
Các yếu tố này có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau và cùng nằm trong môi trường quản lý được thể hiện sơ đồ sau: Kế hoạch hóa MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ công cụ quản lý Chủ thể Khách thể Mục tiêu quản lý quản lý quản lý Phương pháp quản lý Sơ đồ 1. Sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong quản lý 1. Khái niệm quản lý giáo dục Theo nhà khoa học Giáo sư Phạm Minh Hạc [4]: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. Vậy, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục, nói một cách rõ ràng đầy đủ hơn, quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đeo đuổi những mục đích của mình. Mục đích của giáo dục cũng chính là mục đích của quản lý (tuy nó không phải là mục đích duy nhất của mục đích quản lý giáo dục). Đây là mục đích có tính khách quan.
Nhà quản lý, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội. bằng hành động của mình hiện thực hoá mục đích đó. Đối với cấp vĩ mô quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động.
Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,. một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đối với cấp vi mô quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (Có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.