Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu trên thế giới Từ những năm giữa thế kỷ XX, các nhà giáo dục đã thấy được sự cần thiết của việc giáo dục cho thanh thiếu niên khả năng ứng phó, khả năng xã hội, khả năng lựa chọn và ra quyết định để vượt qua những thách thức trong cuộc sống. Vì vậy, việc giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên là nhiệm vụ cấp bách và đáp ứng được yêu cầu phát triển của thời đại [13], [25].
Từ kết quả nghiên cứu của Trần Bảo Quân (2012) trích của Gilbrert Botvin (tiến sỹ người Mỹ - nhà khoa học hành vi và giáo sư tâm thần học), vào năm 1979 đã công bố một chương trình đào tạo kỹ năng sống có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến lớp 9. Chương trình đã tạo cơ hội cho người học được tiếp cận với những kỹ năng xã hội như: quyết đoán, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề để thể hiện sự từ chối sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá. Chương trình gồm các tài liệu hướng dướng dẫn giáo viên, học sinh và băng casset thư giản được triển khai tại nhiều trường học khác nhau và các trung tâm tạm giam người chưa thành niên và đã thu được kết quả ấn tượng [26]. Vào đầu thập kỷ 90 các tổ chức của Liên Hiệp Quốc như WHO (tổ chức Y tế thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ nhi đồng), UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Văn hóa và Khoa học) và các nhà giáo dục thế giới đã cùng tìm cách giáo dục cho thanh thiếu niên năng lực tâm lý xã hội, nhằm ứng phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Đó là giáo dục kỹ năng sống nhằm giúp người học biến nhận thức thành hành động, nghĩa là thanh thiếu niên không chỉ hiểu biết mà còn phải làm được điều mình hiểu. 8 Chính vì vậy, vào năm 2000, Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan đã đưa ra Chương trình hành động Dakar có 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp”, trong đó “người học” ở đây được hiểu từ trẻ em đến người lớn tuổi, còn “phù hợp” được hiểu là phù hợp với vùng, miền, địa phương và phù hợp với lứa tuổi. Còn trong mục tiêu 6 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học”. Như vậy, học kỹ năng sống trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong kỹ năng sống của người học [2].
Cho nên, giáo dục kỹ năng sống cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục các nước. Trong Tuyên bố cam kết của Tiểu bang đặc biệt thuộc Liên Hiệp quốc về HIV/AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) vào tháng 6 năm 2001, các nước đã đồng ý đến năm 2010 đa số thanh niên và phụ nữ từ 15 tuổi đến 24 tuổi có thể tiếp cận thông tin, giáo dục và dịch vụ cần thiết để phát triển kỹ năng sống để giảm những tổn thương do lây nhiễm HIV/AIDS [26]. Trước tình hình này, tại nhiều nước phương Tây, thanh thiếu niên đã được học những kỹ năng sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện, đương đầu với những khó khăn và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người và người. Tại các nước Mỹ Latinh, giáo dục kỹ năng sống là giáo dục toàn diện.
Tại vùng biển Caribe, Liên hiệp quốc phối hợp với Đại học Tây Ấn, Bộ Giáo dục và Bộ Y tế đã điều hành dự án CARICOM (Caribbean Community) nhằm đưa kỹ năng sống vào giảng dạy ở các bậc học toàn vùng thông qua cách tiếp cận giáo dục sức khỏe và cuộc sống gia đình. Tại khu vực châu Á, được sự tài trợ của các tổ chức UNICEF, UNESCO, các chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được triển khai rộng khắp ở các nước từ Nam Á (Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka), Trung Á (Mông Cổ) đến Đông Nam Á nhưng chưa có định nghĩa rõ ràng và đầy đủ về kỹ năng sống và chưa 9 có bộ chuẩn các tiêu chí đồng bộ cho việc hoạch định chương trình cho giáo dục các kỹ năng sống ở các nước. Hơn nữa, lâu nay các tổ chức quốc tế thường đưa ra các định nghĩa và ấn định những mục tiêu không phù hợp hoặc không thể áp dụng một cách có hiệu quả ở tại các nước.Vì thế, UNESCO đã tiến hành dự án ở năm nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn đề khác nhau liên quan đến kỹ năng sống. Dự án chia làm hai giai đoạn với hai nhóm nghiên cứu: Giai đoạn 1: Xác định quan niệm của từng nước về kỹ năng sống và đã làm gì.
Câu hỏi đặt ra ở giai đoạn này cho mỗi nước là: Quan niệm về kỹ năng sống như thế nào? Phát triển quan niệm này như thế nào trong bối cảnh giáo dục cho mọi người? Rà soát xem kết quả thực hiện các chương trình kỹ năng sống như thế nào? Việt Nam cũng tham gia chia sẻ với các nước về vấn đề này qua ấn phẩm “Life skills Mapping in Việt Nam” được in bằng tiếng Việt và tiếng Anh thông qua chương trình hợp tác giữa UNESCO với Viện chiến lược và chương trình giáo dục. Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các công cụ kiểm tra (có tiến hành thử nghiệm) [2], [26],[37]. Như vậy, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là vấn đề đang được các nước trên thế giới và trong khu vực quan tâm. Ở mỗi quốc gia có những quan niệm và nội dung giáo dục kỹ năng sống không giống nhau đã tạo nên một nội hàm giáo dục kỹ năng sống đa dạng và phong phú nhằm trang bị cho người học có khả năng thích ứng cao trong cuộc sống hằng ngày.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Từ xưa, người Việt Nam đã được học “đối nhân xử thế”, “học làm người”, “kinh nghiệm làm ăn”,…để hội nhập vào cuộc sống. Những nội dung học đó, con người đã được trang bị rất đầy đủ và thuần thục nhưng chưa ai biết đến với tên gọi là kỹ năng sống. Vào năm 1996, UNICEF tổ chức chương trình: “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thiếu niên trong và ngoài nhà trường” thì thuật ngữ “Kỹ năng sống” mới được người Việt Nam biết đến. 10 Trong giai đoạn 1: Quan niệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng sống cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, giao tiếp; kỹ năng xác định giá trị; kỹ năng ra quyết định; kỹ năng kiên định; kỹ năng đặt mục tiêu…do các chuyên gia người Úc tập huấn.
Tham gia chương trình này đầu tiên gồm có ngành giáo dục và đào tạo cùng với Hội chữ thập đỏ. Sang giai đoạn 2: chương trình có tên: “Giáo dục sống khoẻ mạnh và kỹ năng sống”. Ngoài ngành giáo dục và đào tạo, còn có sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội là Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Đại diện của các tổ chức này cũng được tập huấn về kỹ năng sống với quan niệm như trên.
Trên cơ sở đó, quan niệm về kỹ năng sống cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn như: kỹ năng ra quyết định; kỹ năng biết từ chối; kỹ năng thương thuyết, đàm phán; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng trình bày…ở đây kỹ năng giao tiếp đã được phân nhỏ thành các kỹ năng thành phần. Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu theo đúng nội hàm của nó sau cuộc hội thảo: “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó, người làm công tác giáo dục ở Việt Nam hiểu rõ và đầy đủ hơn về kỹ năng sống và trách nhiệm phải giáo dục kỹ năng sống cho người học. Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo “Giải pháp phòng ngừa từ xa và ngăn chặn tình trạng học sinh đánh nhau” vào ngày 28/7/2010 tại Hà Nội.
Phó Thủ tướng nêu một số gợi ý để ngành giáo dục và đào tạo phối hợp cùng các bộ, ngành, đoàn thể liên quan nghiên cứu tìm các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn hiện tượng học sinh đánh nhau. Đó là tăng cường giáo dục đạo đức đồng thời khuyến khích tổ chức các hoạt động vui chơi lành mạnh, tích cực cho học sinh. Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ thị số 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 22/7/2008 về việc triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 được coi như là một động thái mạnh mẽ cho việc đưa kỹ năng sống vào nhà trường. Gần đây, Thủ tướng 11 Chính Phủ ban hành Quyết định số 1784/ QĐ- TTg ngày 14 tháng 10 năm 2011 phê duyệt “Đề án quy hoạch phát triển mạng lưới trung tâm huấn luyện kỹ năng và hoạt động dã ngoại thanh thiếu niên”; Quyết định số 711/ QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2013 phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ”; Công văn số 2916/GDĐT – TrH ngày 04 tháng 9 năm 2013 của sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh về “Hướng dẫn tích hợp, lồng ghép các nội dung trong môn giáo dục công dân và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp năm học 2013 -2014”.
Đặc biệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 04 /2014/TT- BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2014 “Quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa”. Ở Việt Nam, một trong những cơ sở nghiên cứu đưa giáo dục kỹ năng sống vào giáo dục và đào tạo, trước hết ở bậc tiểu học là “Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức công dân”, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Ngành giáo dục và đào tạo đã triển khai chương trình giáo dục kỹ năng sống vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục kỹ năng sống.