Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VĂN HÓA VÀ GALLERY MỸ THUẬT 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về quản lý văn hóa - Khái niệm “Quản lý” “Quản lý” là một khái niệm, ở mỗi góc tiếp cận khác nhau lại có nhiều cách hiểu khác nhau bằng nhiều ngữ nghĩa. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan: quản lý lao động, cán bộ quản lý, quản lý theo công việc” [56, tr.
Theo lý thuyết hệ thống: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” [40]. Quản lý “là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước” [24, tr. Trong xã hội sản xuất nông nghiệp thì quản lý đồng nghĩa với cai trị, chỉ giải quyết mối quan hệ “trên - dưới” là chính. Trong sản xuất công nghiệp, quản lý được hiểu là điều hành, điều khiển ngoài quan hệ trên dưới, quản lý không chỉ là công việc của người nắm quyền mà còn sự tham gia điều hành của các chuyên gia quản lý bằng kế hoạch.
Từ những cách tiếp cận khác nhau đó có thể thấy rằng có nhiều quan điểm không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học hiện đại ngày nay, khái niệm “quản lý” được thống nhất cách hiểu là: (1) Quản lý là các hoạt động có ý thức của người lãnh đạo, người đứng đầu, người chịu trách nhiệm nhằm định hướng, lên kế hoạch đầu tư, tổ chức thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung, sơ kết, tổng kết, nghiệm thu kết quả một công trình của một tập thể, một cộng đồng. (2) Quản lý là chức năng vốn có 17 của mọi tổ chức, mọi hành động của cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. (3) Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất.
Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là những con người trong tổ chức, thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hành động. Vì vậy, khi xét về thực chất, quản lý trước hết và chủ yếu là quản lý con người. Xác định như vậy để thấy con người là yếu tố quyết định trong mọi hành động. Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau, có nhiều ý kiến khác nhau về sự phân chia các chức năng trong quá trình quản lý.
Tuy nhiên các chức năng như lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm tra và điều chỉnh là phổ biến đối với mọi nhà quản trị. Có thể nói, các chức năng quản lý trên đây chung nhất đối với mọi nhà quản lý, không phân biệt cấp bậc, ngành nghề, quy mô lớn nhỏ của tổ chức và môi trường xã hội. Quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng và không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý ngày càng lớn và nội dung quản lý ngày càng phức tạp.
- Khái niệm “Quản lý văn hóa” Quản lý văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Quản lý văn hóa bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau nhằm đạt được những mục tiêu mong muốn [19, tr. Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Tri Nguyên đã đưa ra khái niệm Quản lý văn hóa trong kinh tế thị trường như sau: 18 Quản lý là sự điều hành của con người đối với một hệ thống nào đó, nhằm thực hiện những mục tiêu đã định trước. Quản lý văn hóa vừa biểu thị được sự lãnh đạo và điều hành những cơ sở đã được xã hội phân công trong hệ thống Nhà nước hoặc trong các doanh nghiệp hoạt động văn hóa, quản lý văn hóa với tư cách là quản lý về nghệ thuật và văn hóa xác định tính cách hoạt động được định hướng về kinh tế, về kế hoạch, về tính công khai, hoạt động liên quan tới nội dung nghệ thuật và mục tiêu văn hóa, được tập trung nhằm vào sự kiến tạo hiện tại và tương lai [39, tr.
Khái niệm về quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý Nhà nước đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ”. Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đặt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý Nhà nước. Đồng thời các cơ quan Nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành và điều hành, tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng có tổ chức bộ máy và củng cố các chế độ công tác nội bộ của mình.
Trong lĩnh vực văn hóa, quản lý Nhà nước về văn hóa được hiểu là một hệ thống tác động có mục đích của Đảng, Nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách, biện pháp và thực thi bằng pháp luật trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng nhằm định hướng, điều khiển hoạt động, hành vi của các tổ chức và thành viên trong xã hội. Nhằm khơi dậy tiềm năng sáng tạo, ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, tạo ra sự ổn định xã hội trong quá trình phát triển đất nước. 19 Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa có những nét đặc thù riêng, bởi văn hóa nghệ thuật là sản phẩm tinh thần của xã hội, là thứ hàng hóa đặc biệt. Do đó, định hướng cho các hoạt động văn hóa là vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lý Nhà nước trên lĩnh vực này.
Muốn quản lý chặt ch , có hiệu quả thì định hướng phải rõ ràng, có cơ sở khoa học và thực tiễn. Để hoạt động gallery phát triển theo đúng đường lối của Đảng, đồng thời đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của thực tế xã hội của con người trong thời kỳ mới, cần phải có một hệ thống các chính sách liên quan từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đến việc triển khai các hoạt động cụ thể để quản lý nó. Tóm lại, quản lý và quản lý văn hóa là một phạm trù khoa học, là một khái niệm mang tính lịch sử, việc tìm hiểu định nghĩa về vấn đề này cần xét đến những văn cảnh cụ thể. Trong bối cảnh hội nhập của Việt Nam hiện nay, hoạt động gallery nhìn chung phát triển một cách tự phát, phần lớn không có phương hướng mục đích nào khác ngoài lợi nhuận.
Vai trò quản lý Nhà nước là hướng dẫn điều chỉnh các hoạt động của các gallery để tạo nên một môi trường mỹ thuật lành mạnh, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người và nghệ thuật tạo hình Việt Nam ra thế giới. Khái niệm về gallery mỹ thuật - Khái niệm “Gallery” Theo Từ điển Mỹ thuật phổ thông, gallery là “nơi trưng bày và bán các tác phẩm nghệ thuật. Có nhiều dạng ga-lơ-ri: Hành lang bày các tác phẩm nghệ thuật ở trong hoặc ngoài các tòa nhà, như ga-lơ-ri ở hành lang các tu viện, phòng trưng bày và bán các tác phẩm nghệ thuật” [33, tr. Từ điển Anh - Việt thì “gallery là gian phòng hay tòa nhà trưng bày các tác phẩm nghệ thuật [48].
Theo Từ điển Anh - Việt, Việt - Anh, nguyên gốc Tiếng Anh là “a room or building for showing works of art” là gian phòng hay tòa nhà trưng bày các tác phẩm nghệ thuật [50, tr. Từ điển giáo khoa Anh - Việt “gallery là nhà trưng bày hoặc bán các tác phẩm mỹ thuật” [51, 20 tr. Google dịch, cập nhập ngày 15/6/2016 thì gallery là một danh từ để chỉ một phòng hoặc tòa nhà cho việc trưng bày, bán các tác phẩm nghệ thuật. Theo Từ điển Oxford advanced learner’s, của Oxford University thì gallery là một cái phòng hoặc một cái tòa nhà để trưng bày những tác phẩm nghệ thuật cho công chúng, lấy nguyên gốc từ tiếng Anh là “a room or building for showing works of art, especially to the public” [59, tr.
- Khái niệm “Gallery mỹ thuật” Từ các khái niệm của thuật ngữ gallery có thể hiểu rằng, gallery mỹ thuật là một tòa nhà, sảnh hoặc phòng được sử dụng cho mục đích trưng bày, các hiện vật nghệ thuật, là một thiết chế thương mại trưng bày các tác phẩm nghệ thuật để bán, ở đó diễn ra sự tương tác giữa các nghệ sĩ, đồng nghiệp và công chúng bên cạnh các thiết chế khác như bảo tàng, Trung tâm văn hóa, Festival nghệ thuật. Các họa sĩ thường có những thỏa thuận với các gallery, xem gallery là những nhà buôn hoặc đại lý và hưởng phần trăm dựa trên giá bán. Trong lịch sử phát triển của gallery chúng ta thường gặp thuật ngữ gallery nghệ thuật đương đại. Đó là một thuật ngữ dùng để chỉ những gallery thương mại tư nhân.
Những loại gallery này thường tập trung ở các trung tâm đô thị lớn của các quốc gia, tuy nhiên vẫn có một số phòng trưng bày được mở ở những thành phố nhỏ, ít dân cư, nhưng đó thường là những nơi có nhiều nghệ sĩ làm việc và sinh sống. Thông thường, các gallery mỹ thuật tư nhân thường mở cửa cho công chúng tham quan tự do mà không thu phí. Họ thường tìm lợi nhuận bằng việc trích phần trăm từ việc bán tác phẩm của người nghệ sĩ, thường là từ 25 đến 50 cho một tác phẩm được bán. Ngoài ra, còn có nhiều gallery mỹ thuật phi lợi nhuận hoặc tập thể.
Một số phòng trưng bày ở các thành phố lớn như Tokyo thì việc thu phí của các nghệ sĩ tính dựa theo số ngày mà tác phẩm của người nghệ sĩ được trưng bày tại đây.