Tổng quan nghiên cứu

Huyện Trực Ninh là một địa bàn giàu truyền thống hiếu học của tỉnh Nam Định, với diện tích tự nhiên 14.395,4 ha, quy mô dân số trên 178.000 người và mạng lưới giáo dục gồm 04 trường trung học phổ thông công lập. Trong bối cảnh ngành giáo dục đẩy mạnh đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW cùng Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc chuyển đổi phương thức đánh giá kết quả học tập từ lối kiểm tra hành chính truyền thống sang phương thức tiếp cận đảm bảo chất lượng trở thành một yêu cầu cấp bách. Thực tế triển khai giai đoạn 2019 - 2024 cho thấy hoạt động kiểm tra, đánh giá tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn vẫn bộc lộ những bất cập nhất định, như tình trạng xây dựng kế hoạch cận ngày thi, sự thiếu đồng bộ trong khâu ra đề và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin chưa đồng đều.

Nghiên cứu của tác giả Bùi Minh Thắng tập trung phân tích thực trạng và xác lập hệ thống luận cứ khoa học nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông trung học ở huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định theo tiếp cận đảm bảo chất lượng. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 04 trường trung học phổ thông trên địa bàn gồm: Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Trung học phổ thông Nguyễn Trãi, Trung học phổ thông Trực Ninh và Trung học phổ thông Trực Ninh B trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2024. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp cung cấp các giải pháp tối ưu hóa quản trị học đường, hướng tới mục tiêu thu hẹp khoảng cách chênh lệch 26,7% về mức độ chủ động lập kế hoạch giữa các đơn vị, giảm thiểu tối đa các rủi ro sai sót trong nhập điểm và nâng tỷ lệ chuẩn hóa quy trình đánh giá lên trên 90%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng lý thuyết quản lý chất lượng trong giáo dục của Edward Sallis ban hành năm 1993, trong đó phân định rõ ba cấp độ vận hành: kiểm soát chất lượng nhằm phát hiện lỗi, đảm bảo chất lượng nhằm phòng ngừa sai sót ngay từ đầu, và quản lý chất lượng tổng thể hướng đến cải tiến liên tục. Nghiên cứu cũng kế thừa mô hình bốn chỉ số đảm bảo chất lượng của Frazer công bố năm 1992, nhấn mạnh trách nhiệm của từng cá nhân trong việc duy trì chuẩn mực giáo dục, cùng hệ thống mười lăm quy tắc đánh giá người học của Cơ quan Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học Vương quốc Anh ban hành năm 2004.

Các khái niệm nòng cốt được làm sáng tỏ gồm: quản lý giáo dục, chất lượng giáo dục, đảm bảo chất lượng trong trường phổ thông và đánh giá kết quả học tập định hướng phát triển năng lực. Dưới góc độ quản lý, đảm bảo chất lượng trong đánh giá kết quả học tập là một quy trình kiểm soát chủ động và khép kín gồm bảy bước tuần hoàn: xác định mục tiêu đánh giá, lập kế hoạch khảo sát, thiết kế công cụ đo lường, tổ chức thực hiện, xử lý số liệu, giải thích và phản hồi thông tin cho người học, cuối cùng là kiểm tra và điều chỉnh sai sót. Mục đích cốt lõi của cách tiếp cận này không dừng lại ở việc xếp loại học sinh mà nhằm ngăn ngừa rủi ro sai lệch chuẩn đầu ra, thúc đẩy tinh thần tự học và cung cấp dữ liệu tin cậy để cải tiến phương pháp giảng dạy.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm nhằm bảo đảm tính khách quan cao nhất:

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua kỹ thuật điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu chuyên gia. Tổng thể nghiên cứu xác định gồm toàn bộ 172 cán bộ quản lý và giáo viên đang công tác tại 04 trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trực Ninh. Áp dụng công thức tính kích thước mẫu xác suất với độ tin cậy 95% và sai số cho phép 5%, tác giả đã lựa chọn ngẫu nhiên mẫu khảo sát gồm 120 cán bộ quản lý và giáo viên. Số phiếu phát ra là 120 phiếu và thu về 120 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 100%. Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert bốn mức độ, chuẩn hóa từ mức một là hoàn toàn không đồng ý đến mức bốn là rất đồng ý.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả qua phần mềm SPSS là nhằm xử lý định lượng chính xác các chỉ số phần trăm đồng thuận, so sánh tương quan giữa các nhóm trường và phát hiện các điểm nghẽn trong khâu quản lý. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 03 chuyên gia gồm đại diện cán bộ quản lý Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam Định, lãnh đạo Ban Giám hiệu và giáo viên cốt cán để làm rõ nguyên nhân sâu xa của các số liệu thu được. Timeline thu thập và xử lý toàn bộ dữ liệu khảo sát được triển khai tập trung từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại 04 trường trung học phổ thông huyện Trực Ninh ghi nhận những kết quả nổi bật về công tác quản trị hoạt động kiểm tra, đánh giá theo tiếp cận đảm bảo chất lượng:

Thứ nhất, tồn tại sự phân hóa rõ nét giữa các nhà trường trong việc chủ động lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá. Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn đạt tỷ lệ đồng thuận cao nhất với 90,0% ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá tích cực về tính chủ động. Ngược lại, Trường Trung học phổ thông Trực Ninh chỉ đạt tỷ lệ 63,3%, tạo ra mức chênh lệch đáng kể lên tới 26,7%. Tại các trường như Trung học phổ thông Trực Ninh B và Trung học phổ thông Nguyễn Trãi, tỷ lệ đồng thuận duy trì ở mức khá nhưng một bộ phận giáo viên vẫn mang tâm lý thụ động, chờ đợi kế hoạch công tác tuần từ Ban Giám hiệu mới cụ thể hóa kế hoạch bài dạy.

Thứ hai, công tác tổ chức triển khai kiểm tra và phổ biến quy định đạt được sự nhất trí cao, song khâu chuyển đổi số vẫn là điểm trũng. Tỷ lệ cán bộ quản lý và giáo viên đồng thuận với việc phổ biến quy định đạt 84,2%; quy chế thi và quy trình tổ chức thi đạt 81,7%; mức độ phối hợp liên bộ phận đạt 81,7%. Tuy nhiên, tiêu chí ứng dụng công nghệ thông tin trong chấm thi, nhập điểm và lưu trữ kết quả chỉ đạt 75,62%, thấp nhất trong các tiêu chí khảo sát về khâu tổ chức thực hiện.

Thứ ba, hệ thống giám sát và tiếp nhận khiếu nại hoạt động hiệu quả. Có 87,5% ý kiến đánh giá cao sự chặt chẽ trong quản lý các khâu từ ra đề, coi thi đến vào điểm, và 87,5% đồng ý với phương thức xử lý kịp thời các sai sót phát sinh. Kênh tiếp nhận thông tin phản hồi từ học sinh và giáo viên ghi nhận mức độ hài lòng đạt 86,7%. Tỷ lệ kiểm soát chất lượng đề thi của Tổ chuyên môn đạt 80,9% và mức độ cởi mở lắng nghe của Ban Giám hiệu đạt 80,8%.

Thảo luận kết quả

Khoảng cách chênh lệch 26,7% về mức độ chủ động lập kế hoạch giữa các trường phản ánh sự khác biệt về phong cách lãnh đạo và văn hóa kiểm định chất lượng nội bộ. Tại Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, đơn vị có thứ hạng học tập nằm trong nhóm 5 trên tổng số 54 trường trung học phổ thông của tỉnh Nam Định năm 2023 với tỷ lệ đỗ đại học vượt 90%, việc lập kế hoạch đã được tiêu chuẩn hóa theo quy trình phòng ngừa từ xa. Ngược lại, tại những đơn vị đạt tỷ lệ đồng thuận dưới 70%, công tác lập kế hoạch vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thói quen điều hành sự vụ.

Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ so sánh cột và bảng phân tích mức độ đồng thuận, bức tranh toàn cảnh cho thấy nghịch lý giữa năng lực giám sát trực tiếp và năng lực tự động hóa. Trong khi các chỉ số thanh tra trực tiếp đều vượt ngưỡng 87,0%, thì chỉ số ứng dụng công nghệ khảo thí chỉ dừng ở mức 75,62%. So với các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Đồng năm 2018 và Trần Trọng Hà năm 2010, kết quả tại huyện Trực Ninh khẳng định việc tổ chức thi học kỳ tập trung theo số báo danh đối với hai môn Toán và Ngữ văn đã hạn chế triệt để tính chủ quan của giáo viên bộ môn. Tuy nhiên, các bài kiểm tra định kỳ 45 phút trên lớp vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu chuẩn xác nếu thiếu ngân hàng đề thi chuẩn hóa và hệ thống phần mềm quản lý chấm thi tự động.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý kiểm tra, đánh giá theo tiếp cận đảm bảo chất lượng:

Một là, chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá sớm theo hướng chủ động phòng ngừa. Ban Giám hiệu các trường trung học phổ thông tại Trực Ninh cần ban hành khung kế hoạch kiểm tra tổng thể trước ngày khai giảng tối thiểu 15 ngày, dựa trên Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH. Yêu cầu 100% tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng môn học ngay từ tuần đầu năm học, phấn đấu nâng chỉ số đồng thuận về tính chủ động lập kế hoạch tại tất cả các trường lên trên 90% vào năm 2025.

Hai là, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin và đồng bộ hóa phần mềm khảo thí. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam Định cùng Ban Giám hiệu 04 trường trung học phổ thông cần bố trí ngân sách xây dựng ngân hàng câu hỏi đề thi số hóa và ứng dụng phần mềm chấm trắc nghiệm, quản lý điểm tự động. Mục tiêu đặt ra là nâng mức độ hài lòng về ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá từ 75,62% hiện nay lên trên 88% vào giai đoạn 2025 - 2026.

Ba là, đổi mới công tác bồi dưỡng kỹ thuật xây dựng ma trận và bản đặc tả đề thi. Ban Giám hiệu phối hợp với các chuyên gia giáo dục tổ chức định kỳ 02 đợt tập huấn chuyên sâu hàng năm cho toàn thể giáo viên. Nội dung tập trung vào kỹ thuật biên soạn đề kiểm tra tích hợp theo bốn cấp độ nhận thức gồm nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao, hoàn thành đợt chuẩn hóa đầu tiên trước quý II năm 2025.

Bốn là, củng cố cơ chế giám sát đa chiều và minh bạch hóa kênh tiếp nhận phản hồi. Các trường cần duy trì cơ chế thanh tra đột xuất các khâu chấm bài, đồng thời số hóa hộp thư góp ý trực tuyến nhằm giải quyết các khiếu nại về điểm số của học sinh trong thời hạn tối đa 48 giờ làm việc, đảm bảo chỉ số hài lòng về tính công bằng luôn duy trì trên 90%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung giải pháp của luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Thứ nhất, cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông gồm Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng tổ chuyên môn. Nhóm đối tượng này có thể trực tiếp ứng dụng quy trình quản lý bảy bước và bộ tiêu chí kiểm soát rủi ro để cải tiến kế hoạch giáo dục nhà trường, giải quyết dứt điểm tình trạng buông lỏng kiểm tra đánh giá tại lớp học.

Thứ hai, chuyên viên phụ trách công tác khảo thí và kiểm định chất lượng tại Sở Giáo dục và Đào tạo cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo. Dữ liệu thực chứng của đề tài cung cấp luận cứ tin cậy để các nhà hoạch định chính sách xây dựng khung chỉ đạo đổi mới phương pháp đánh giá học sinh trên quy mô toàn tỉnh hoặc tại các địa phương có điều kiện tương đồng.

Thứ ba, đội ngũ giáo viên các bộ môn bậc trung học phổ thông. Nghiên cứu giúp giáo viên hiểu rõ các nguyên tắc đánh giá vì sự tiến bộ của người học theo Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT, từ đó nâng cao kỹ năng thiết kế ma trận đề thi và áp dụng các hình thức đánh giá thường xuyên đa dạng như dự án học tập hay bài tập nghiên cứu nhỏ.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Quản lý và Quản lý Giáo dục. Luận văn đóng vai trò là một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp giữa lý thuyết đảm bảo chất lượng công nghiệp với quản trị nhà trường, đi kèm quy trình chọn mẫu xác suất 120 đối tượng và mô hình xử lý dữ liệu SPSS mẫu mực.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận đảm bảo chất lượng có điểm gì khác biệt so với cách quản lý kiểm tra truyền thống? Quản lý truyền thống chủ yếu mang tính kiểm soát hành chính, tức là tập trung phát hiện và xử lý sai phạm sau khi kỳ thi đã kết thúc. Ngược lại, tiếp cận đảm bảo chất lượng tập trung phòng ngừa sai sót ngay từ khâu đầu vào như lập kế hoạch, ra ma trận đặc tả đề thi và chuẩn hóa barem chấm, nhằm tạo niềm tin vững chắc về chuẩn đầu ra của học sinh.

Nguyên nhân nào dẫn đến mức chênh lệch 26,7% về sự chủ động lập kế hoạch giữa các trường trung học phổ thông tại huyện Trực Ninh? Sự chênh lệch giữa mức 90,0% tại Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn và 63,3% tại Trường Trung học phổ thông Trực Ninh xuất phát từ năng lực quản trị kế hoạch và kỷ cương chuyên môn. Ở những trường có phong trào giáo dục mũi nhọn, Ban Giám hiệu chỉ đạo xây dựng kế hoạch dài hạn rất quyết liệt, trong khi ở trường khác giáo viên vẫn có tâm lý chờ kế hoạch tuần từ cấp trên.

Phương pháp khảo sát và quy mô mẫu trong nghiên cứu được xác định dựa trên tiêu chuẩn khoa học nào? Nghiên cứu áp dụng công thức tính mẫu xác suất với sai số cho phép 5% trên tổng thể 172 cán bộ quản lý và giáo viên, từ đó xác định cỡ mẫu tối thiểu đại diện là 120 người. Tác giả đã thu về đủ 120 phiếu hợp lệ đạt 100% và tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo Likert bốn mức độ trên phần mềm SPSS, kết hợp phỏng vấn sâu 03 chuyên gia để đối soát thông tin.

Hình thức tổ chức thi học kỳ tập trung đối với môn Ngữ văn và Toán mang lại lợi thế quản trị nào? Nhà trường tổ chức đánh số báo danh theo thứ tự bảng chữ cái toàn khối, thành lập các tiểu ban bảo mật cơ sở vật chất, sao in đề và chấm chéo bài thi. Quy trình này giúp loại bỏ hoàn toàn tính chủ quan của giáo viên dạy lớp, ngăn ngừa tiêu cực thi cử và phản ánh chính xác 100% năng lực học tập thực chất của học sinh.

Tại sao chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá lại đạt mức đồng thuận thấp nhất với 75,62%? Rào cản lớn nhất nằm ở sự thiếu đồng bộ về hạ tầng thiết bị máy tính, kinh phí đầu tư phần mềm chuyên dụng và việc chưa thể thiết lập ngân hàng câu hỏi số dùng chung giữa 04 trường. Một số giáo viên lớn tuổi còn gặp khó khăn nhất định trong việc sử dụng các phần mềm thống kê và phân tích độ phân hóa của đề thi.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông theo tiếp cận đảm bảo chất lượng, dựa trên khung lý thuyết của Edward Sallis và Frazer.
  • Đề tài phân tích toàn diện thực trạng tại 04 trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trực Ninh thông qua mẫu điều tra chuẩn xác gồm 120 cán bộ quản lý và giáo viên được xử lý trên SPSS.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các thành tựu nổi bật trong khâu giám sát đạt 87,5% và tổ chức quy chế thi đạt 81,7%, đồng thời nhận diện chính xác điểm nghẽn ứng dụng công nghệ thông tin chỉ đạt 75,62%.
  • Tác giả làm sáng tỏ khoảng cách 26,7% về mức độ chủ động lập kế hoạch giữa các đơn vị trường học, làm cơ sở thực chứng vững chắc cho việc tái cơ cấu quy trình quản trị chuyên môn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ có phân kỳ thực hiện rõ nét từ năm 2024 đến năm 2026, gắn liền trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu cùng tổ bộ môn.

Mô hình quản lý theo tiếp cận đảm bảo chất lượng là chìa khóa then chốt để các cơ sở giáo dục phổ thông loại bỏ bệnh thành tích và nâng cao chất lượng đào tạo thực chất. Ban Giám hiệu các trường trung học phổ thông hãy chủ động chuẩn hóa quy trình đánh giá bảy bước ngay từ năm học này để kiến tạo một môi trường giáo dục công bằng, minh bạch và phát triển toàn diện cho học sinh.