Tổng quan nghiên cứu

Nghệ thuật Tuồng cổ (hát Bội) là di sản sân khấu bác học độc đáo của dân tộc, hình thành và phát triển rực rỡ từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 18. Tại vùng đất xứ Quảng – cái nôi nghệ thuật truyền thống miền Trung, huyện Nông Sơn là địa bàn lưu giữ chiều sâu lịch sử với diện tích tự nhiên 455,92 km² và quy mô dân số 26.678 người theo thống kê năm 2019. Trong bối cảnh cả nước chỉ còn 7 nhà hát Tuồng chuyên nghiệp hưởng bao cấp toàn phần nhưng gặp nhiều khủng hoảng khán giả, tỉnh Quảng Nam lại ghi nhận 19 đơn vị nghệ thuật Tuồng duy trì hoạt động thường xuyên, bao gồm 1 đoàn bán chuyên Sông Thu và 18 câu lạc bộ quần chúng.

Riêng huyện Nông Sơn đã xây dựng mạng lưới 6 câu lạc bộ Tuồng phủ đều 6 xã. Tuy nhiên, làn sóng đô thị hóa, sự bùng nổ của các phương tiện giải trí kỹ thuật số và áp lực chuyển đổi cơ chế thị trường đã khiến nghệ thuật Tuồng đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Các câu lạc bộ cơ sở đối mặt với tình trạng thiếu hụt kinh phí, thiếu kịch bản mẫu mực, thiếu trang thiết bị và đặc biệt là sự già hóa của đội ngũ nghệ nhân nòng cốt.

Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước và quản lý chuyên môn đối với hệ thống câu lạc bộ Tuồng tại Nông Sơn giai đoạn 2012–2021. Luận văn xác định các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và phương thức tổ chức. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ nhằm bảo tồn không gian diễn xướng dân gian, nâng cấp năng lực biểu diễn và gắn kết nghệ thuật Tuồng với chiến lược phát triển du lịch di sản địa phương. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ công tác hoạch định chính sách văn hóa cơ sở tại các địa bàn miền núi có di sản văn hóa phi vật thể phong phú.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên lý thuyết quản lý văn hóa hiện đại và khung pháp lý quốc tế lẫn quốc gia về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể:

  • Lý thuyết quản lý văn hóa trong thời kỳ đổi mới và hội nhập: Vận dụng quan điểm của Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2014) về định hướng mục tiêu, phân bổ nguồn lực và đổi mới thể chế quản lý văn hóa; kết hợp lý thuyết về cơ chế tự chủ tài chính và xã hội hóa nghệ thuật biểu diễn của Nguyễn Danh Ngà, Nguyễn Danh Thuận và Nguyễn Chí Bền (2010).
  • Khung thể chế bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể: Dựa trên Công ước UNESCO 2003 gồm 8 chương, 40 điều về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (Việt Nam tham gia năm 2005); Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, trọng tâm là các Điều 17, 23, 24); Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định 7 loại hình di sản văn hóa phi vật thể và chế độ đãi ngộ nghệ nhân.
  • Hệ thống khái niệm nòng cốt: Xác lập và chuẩn hóa các khái niệm: Di sản văn hóa phi vật thể, Bảo tồn thích ứng di sản, Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật, và Mô hình thiết chế Câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật quần chúng. Đồng thời, luận văn định vị giá trị đặc trưng của dòng "Tuồng văn xứ Quảng" – phong cách biểu diễn thiên về độc thoại nội tâm, kỹ thuật nhả chữ ngọt ngào âm hưởng Bình – Trị – Thiên, đối lập với tính chất mãnh liệt của "Tuồng võ Bình Định".

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp các phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao:

  • Phương pháp điền dã và khảo sát thực tế: Khảo sát trực tiếp toàn bộ 6/6 câu lạc bộ Tuồng tại 6 xã trên địa bàn huyện Nông Sơn (Quế Trung, Quế Lộc, Quế Lâm, Sơn Viên, Ninh Phước, Phước Ninh). Quá trình khảo sát thu thập dữ liệu định lượng về tần suất sinh hoạt, điều kiện cơ sở vật chất, hệ thống đạo cụ, kịch bản lưu giữ và quy mô khán giả.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp 42 nghệ nhân và cán bộ nòng cốt (như nghệ nhân Ngô Chánh Hùng thuộc CLB Sơn Viên, nghệ nhân Huỳnh Thị Hạnh thuộc CLB Phước Ninh, đại diện Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Nông Sơn). Nội dung phỏng vấn tập trung vào nhu cầu truyền nghề, thu nhập, rào cản tài chính và nguyện vọng học tập của thanh thiếu niên địa phương.
  • Phương pháp liên ngành và thống kê phân loại: Ứng dụng công cụ phân tích từ Văn hóa học, Sân khấu học và Xã hội học văn hóa để đối sánh các giai đoạn phát triển từ năm 2012 (khi đề án thành lập câu lạc bộ bắt đầu với 3 xã) đến năm 2021 (thời điểm hoàn thiện 6 câu lạc bộ cấp xã và tổ chức liên hoan lần thứ 6 gắn với Lễ hội Bà Thu Bồn).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và phân tích tài liệu quản lý giai đoạn 2012–2021 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  1. Mạng lưới tổ chức hoàn thiện nhưng hiệu suất sinh hoạt phân hóa mạnh: Từ đề án năm 2012 với 3/7 xã có câu lạc bộ (đạt tỷ lệ 42,8%), đến năm 2014 toàn huyện đã đạt 100% xã có câu lạc bộ Tuồng. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính năm 2020 (hợp nhất Quế Ninh và Quế Phước thành xã Ninh Phước), quy mô duy trì ổn định 6 câu lạc bộ tại 6 xã. Tuy nhiên, chỉ có 4/6 đơn vị (Quế Trung, Quế Lâm, Sơn Viên, Ninh Phước) duy trì tập luyện hằng tuần; 2 đơn vị còn lại (Phước Ninh, Quế Lộc) hoạt động cầm chừng, chỉ tập hợp diễn viên khi có hội thi, hội diễn.
  2. Khủng hoảng nguồn nhân lực và già hóa nghệ nhân: Danh mục thống kê 42 nghệ nhân tham gia thường xuyên cho thấy khoảng 75% thành viên ở độ tuổi từ 50 đến 80 tuổi (tiêu biểu như nghệ nhân Đỗ Tám 80 tuổi, Nguyễn Tiến Hùng 75 tuổi, Lê Minh Bá 70 tuổi). Tỷ lệ diễn viên trẻ dưới 40 tuổi chỉ chiếm khoảng 14,2% (6/42 người), tạo nên khoảng trống chuyển giao thế hệ sâu sắc.
  3. Cơ sở vật chất và tài chính thiếu thốn nghiêm trọng: 50% số câu lạc bộ (3/6 đơn vị) hoàn toàn không có đạo cụ sân khấu và dàn nhạc cụ biểu diễn đạt chuẩn. Huyện chưa có nguồn ngân sách thường xuyên cấp riêng cho hoạt động câu lạc bộ; các buổi tập luyện và biểu diễn phục vụ lễ hội phụ thuộc chủ yếu vào sự hỗ trợ nhỏ giọt từ Ủy ban nhân dân cấp xã (chi trả tiền thuê âm thanh, ánh sáng) kết hợp tiền ủng hộ tự nguyện từ khán giả.
  4. Khan hiếm kịch bản kinh điển và làn điệu cổ: Hầu hết các câu lạc bộ chỉ lưu giữ được một vài trích đoạn ngắn hoặc kịch bản dân ca mới sáng tác. Các kịch bản Tuồng kinh điển của tác giả Nguyễn Hiển Dĩnh, Tống Phước Phổ và các làn điệu Tuồng cổ Khu V bị thất truyền hoặc thiếu văn bản ký âm bài bản.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát thực tế có thể được hệ thống hóa qua bảng so sánh giữa các xã để thấy rõ mối tương quan giữa sự quan tâm của chính quyền địa phương và sức sống phong trào văn nghệ. Tại các xã Quế Trung, Sơn Viên và Ninh Phước, nhờ sự hiện diện của 2 đến 3 nghệ nhân gạo cội tâm huyết, câu lạc bộ vẫn tự tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân định kỳ 1 lần mỗi năm và duy trì giao lưu liên xã định kỳ 3 tháng 1 lần.

Tuy nhiên, nguyên nhân cốt lõi khiến phong trào chưa bền vững nằm ở cơ chế quản lý chậm đổi mới. Huyện Nông Sơn duy trì định kỳ 2 năm tổ chức Liên hoan nghệ thuật Tuồng 1 lần và 2 năm tổ chức 1 lớp tập huấn đàn hát. Mặc dù vậy, công tác kiểm tra, giám sát sau tập huấn còn mang tính thời điểm. Quy chế bắt buộc mỗi câu lạc bộ dự thi phải có ít nhất 1 diễn viên dưới 18 tuổi tại Liên hoan Tuồng lần thứ 6 năm 2021 là bước tiến quản lý đột phá, song việc duy trì sinh hoạt cho lực lượng trẻ này sau hội diễn vẫn chưa có cơ chế hỗ trợ tài chính cụ thể.

Khi so sánh với các địa phương lân cận như huyện Duy Xuyên (7 câu lạc bộ, có đoàn Sông Thu) hay huyện Quế Sơn (6 câu lạc bộ), Nông Sơn có lợi thế lớn về không gian văn hóa nguyên sơ ven sông Thu Bồn gắn liền với các lễ hội cấp quốc gia. Song sự thiếu hụt liên kết giữa ngành văn hóa và ngành du lịch khiến giá trị độc đáo của Tuồng xứ Quảng tại Nông Sơn chưa được khai thác thành sản phẩm du lịch có doanh thu tái đầu tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Để tháo gỡ các nút thắt trên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý chiến lược:

  1. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và hỗ trợ kinh phí hoạt động: Ủy ban nhân dân huyện Nông Sơn và Hội đồng nhân dân các cấp cần ban hành nghị quyết chuyên đề về bảo tồn di sản Tuồng. Thiết lập mức trợ cấp sinh hoạt hằng tháng cho 100% nghệ nhân cao tuổi nắm giữ bí quyết nghề nghiệp theo Nghị định 98/2010/NĐ-CP; cấp gói hỗ trợ cố định hằng năm tối thiểu cho 6 câu lạc bộ xã để chi trả kinh phí thuê mặt bằng, bồi dưỡng tập luyện và mua sắm trang phục cơ bản.
  2. Đổi mới quy trình đào tạo và phát triển nhân lực kế cận: Phối hợp định kỳ với Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) và Đoàn Dân ca kịch Quảng Nam mở các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng diễn xuất, hóa trang, sử dụng trống chiến, kèn bóp. Triển khai chương trình "Đưa nghệ thuật Tuồng vào trường học" tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn huyện Nông Sơn, đặt mục tiêu thu hút tối thiểu 20% học sinh yêu thích tham gia các lớp bồi dưỡng ngoại khóa giai đoạn 2022–2025.
  3. Mở rộng mô hình liên kết biểu diễn gắn với du lịch sinh thái – tâm linh: Xây dựng đề án tích hợp nghệ thuật biểu diễn Tuồng vào chuỗi sự kiện Lễ hội Bà Thu Bồn, tour du lịch sinh thái Làng trái cây Đại Bình và khu du lịch Hòn Kẽm Đá Dừng. Tổ chức biểu diễn định kỳ phục vụ du khách vào các dịp cuối tuần và lễ tết, chuyển đổi mô hình từ biểu diễn thuần túy sang cung ứng dịch vụ văn hóa có thu phí.
  4. Đẩy mạnh công tác sưu tầm, số hóa kịch bản và truyền thông đại chúng: Khẩn trương sưu tầm, ghi hình, số hóa các trích đoạn Tuồng cổ, làn điệu dân ca Khu V của các nghệ nhân cao tuổi (như nghệ nhân 70–80 tuổi) để xây dựng kho tư liệu số dùng chung cho 6 xã; tăng cường thời lượng quảng bá trên hệ thống truyền thanh cơ sở và các nền tảng mạng xã hội nhằm nâng cao thẩm mỹ nghệ thuật cho tầng lớp thanh niên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm độc giả chuyên ngành:

  • Cán bộ quản lý văn hóa cơ sở (Phòng VH&TT, Trung tâm VH-TT&TT-TH cấp huyện, công chức văn hóa xã): Nắm bắt phương pháp khảo sát, quy trình lập đề án thành lập và quản lý các thiết chế câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống hiệu quả trong điều kiện ngân sách hạn hẹp.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa học, nghệ thuật sân khấu và sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa: Tiếp cận nguồn tư liệu thực địa chi tiết về lịch sử phát sinh, phát triển của dòng Tuồng văn xứ Quảng cùng các dữ liệu định lượng cụ thể về 6 câu lạc bộ tại huyện Nông Sơn.
  • Ban chủ nhiệm câu lạc bộ và các nghệ nhân dân gian: Tham khảo các mô hình sinh hoạt giao lưu liên xã, kinh nghiệm dàn dựng vở diễn ngắn gọn, phương pháp truyền nghề và cách thức huy động vốn xã hội hóa từ cộng đồng.
  • Các đơn vị phát triển du lịch di sản và tổ chức sự kiện văn hóa: Xây dựng ý tưởng đưa nghệ thuật sân khấu cổ truyền vào không gian lễ hội, tạo dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm mang đậm bản sắc địa phương ven sông Thu Bồn.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Điểm khác biệt cốt lõi giữa Tuồng văn Quảng Nam và Tuồng võ Bình Định là gì?
Trả lời: Tuồng võ Bình Định thiên về vũ đạo mạnh mẽ, dứt khoát, mang đậm tính chất võ thuật chiến đấu. Ngược lại, Tuồng văn Quảng Nam tập trung biểu đạt thế giới nội tâm nhân vật qua kỹ thuật múa mềm mại, nhả chữ nhẹ nhàng mang âm hưởng dân ca miền Trung, đặc biệt thăng hoa trong các trường đoạn độc thoại sâu lắng.

Hỏi: Thực trạng già hóa đội ngũ nghệ nhân tại 6 câu lạc bộ Tuồng huyện Nông Sơn diễn ra như thế nào?
Trả lời: Khảo sát 42 nghệ nhân thường trực cho thấy có khoảng 75% hội viên đã trên 50 tuổi, trong đó nhiều nghệ nhân nòng cốt đã từ 65 đến 80 tuổi. Tỷ lệ nghệ nhân dưới 40 tuổi chỉ chiếm khoảng 14,2%, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đào tạo lớp diễn viên kế cận để tránh đứt gãy di sản.

Hỏi: Cơ sở vật chất của các câu lạc bộ Tuồng cấp xã tại Nông Sơn hiện đáp ứng ra sao?
Trả lời: Hiện có 3 trên tổng số 6 câu lạc bộ hoàn toàn thiếu thốn đạo cụ sân khấu và nhạc cụ chuyên dụng. Khi biểu diễn phục vụ lễ hội, các đơn vị phải thuê mướn tốn kém, phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ đột xuất từ Ủy ban nhân dân cấp xã và tiền đóng góp tự nguyện từ nhân dân địa phương.

Hỏi: Luận văn đề xuất giải pháp đột phá nào để tạo nguồn thu tự chủ cho các câu lạc bộ?
Trả lời: Tác giả khuyến nghị lồng ghép biểu diễn Tuồng vào các tour du lịch sinh thái ven sông Thu Bồn, Làng trái cây Đại Bình và quần thể di tích Lễ hội Bà Thu Bồn. Việc phục vụ du khách tham quan trải nghiệm sẽ tạo nguồn thu bán vé và tiền bồi dưỡng thường xuyên cho diễn viên.

Hỏi: Vai trò của các kỳ liên hoan văn nghệ cấp huyện đối với việc duy trì phong trào Tuồng là gì?
Trả lời: Định kỳ 2 năm một lần, huyện Nông Sơn tổ chức Liên hoan nghệ thuật Tuồng – Dân ca, tiêu biểu là kỳ liên hoan thứ 6 năm 2021. Đây là động lực kích hoạt 100% câu lạc bộ tập luyện, đồng thời bắt buộc tuyển chọn diễn viên trẻ dưới 18 tuổi tham gia thi diễn cọ xát.

Kết luận

  • Khẳng định tính cấp thiết: Quản lý và bảo tồn nghệ thuật Tuồng tại huyện Nông Sơn là nhiệm vụ văn hóa then chốt, góp phần giữ gìn bản sắc Tuồng văn xứ Quảng trước thách thức mai một của thời đại số.
  • Đánh giá hiện trạng: Huyện đã thiết lập mạng lưới 6 câu lạc bộ tại 6/6 xã, tập hợp được 42 nghệ nhân cốt cán, duy trì liên hoan định kỳ 2 năm một lần nhưng đang đối mặt với nguy cơ già hóa và thiếu hụt kinh phí nghiêm trọng.
  • Đóng góp học thuật: Luận văn hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý thiết chế câu lạc bộ nghệ thuật biểu diễn truyền thống cấp huyện, cung cấp bộ số liệu khảo sát thực địa toàn diện và độc bản về vùng Tuồng Nông Sơn giai đoạn 2012–2021.
  • Lộ trình triển khai: Giai đoạn 2022–2025 cần tập trung hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho 100% câu lạc bộ, phối hợp mở 2 lớp tập huấn chuyên sâu/năm cùng Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh và số hóa toàn bộ kịch bản cổ truyền.
  • Kêu gọi hành động: Các cấp ủy Đảng, chính quyền, ngành văn hóa và cộng đồng địa phương cần chung tay triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý, đưa nghệ thuật Tuồng trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng, trường tồn cùng dòng sông Thu Bồn lịch sử.