CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Theo tổ chức UNESCO “mọi cuộc cải cách giáo dục, đều bắt đầu từ người giáo viên” và đội ngũ giáo viên (ĐNGV) có vai trò là lực lượng “Đảm bảo giáo dục có chất lượng một cách công bằng và hiệu quả, đồng thời nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”. Chính vì vậy, ở các quốc gia vị thế, vai trò GV THCS ngày càng được xã hội đề cao và tôn vinh.
Hai yếu tố nhân cách và đặc trưng nghề nghiệp được kết tinh, hòa trộn tạo nên mô hình hoạt động của người giáo viên đó là: nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý và hoạt động xã hội (dẫn theo tác phẩm “Vị thế nhà giáo” của UNESCO và ILO). Một trong những trọng tâm của việc sử dụng giáo viên là phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho họ. Việc phát triển chuyên môn, nghiệp vụ được thực hiện cho các giáo viên mới và toàn bộ đội ngũ giáo viên với nhiều hình thức khác nhau. Và phát triển chuyên môn, học tập suốt đời là nhiệm vụ bắt buộc của giáo viên.
Các quốc gia như Sweden, Australia và UK, ngoài các chương trình cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, họ còn có các chương trình bồi dưỡng theo các chuyên đề nâng cao trình độ và cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ nghiệp vụ cho giáo viên để họ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Việc bồi dưỡng giáo viên là một nhiệm vụ bắt buộc. Hội đồng quốc gia các trường ở Nauy quyết định, tất cả các giáo viên mới được tuyển chọn đều phải qua một khóa huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ 3-4 tuần. Hiện nay, hầu hết hệ thống giáo dục phổ thông ở các quốc gia kéo dài 12 năm gồm 3 giai đoạn, cấp tiểu học (lớp 1-5), cấp THCS (lớp 6-9), cấp THPT (lớp 10-12).
Đội ngũ GV THCS có vai trò vừa là nhà sư phạm, vừa là nhà giáo dục trực tiếp tham gia giảng dạy từ lớp 6-9 đảm bảo sự thành công của tất cả mọi học sinh cấp THCS. Tổ chức “Learning Forward” là tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất Mỹ với mục tiêu “mỗi ngày, mỗi nhà giáo dục đào tạo đều tham gia vào công tác dạy và học một cách chuyên nghiệp và hiệu quả để mỗi học sinh đều đạt được thành tích tốt nhất” [28; tr8- 16] Năm 1999, hai tác giả M.Hargreaves trong tác phẩm “Phát triển 6 giáo viên và thay đổi giáo dục” [40]; nghiên cứu quản lý bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên cũng đã chỉ ra các phương diện để nâng cao năng lực cá nhân cho giáo viên, đó là: (i) Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ, gồm: phát triển các kĩ năng tồn tại; thành thạo các kĩ năng dạy học cơ bản; mở rộng sự linh hoạt chuyên môn; trở thành chuyên gia; góp phần phát triển chuyên môn của đồng nghiệp; tham gia đưa ra quyết sách giáo dục ở mọi cấp độ; (ii) Phát triển chu kì nghề nghiệp, gồm: khởi động nghề nghiệp; ổn định, gắn bó nghề nghiệp; các thách thức và mối quan tâm mới và trở nên chuyên nghiệp. Tương tự, Varnava-Marouchou (2010), [39] chỉ ra mục đích chính của bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ là giúp giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học để phát triển năng lực cho học sinh chứ không phải là truyền đạt kiến thức. Các nội dung bồi dưỡng gồm kĩ năng sử dụng ICT, các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo.
Chương trình bồi dưỡng có thể là một chuyên đề hay một loạt các chuyên đề, có thể liên quan hoặc không liên quan đến nhau, được gọi dưới các dạng thức như huấn luyện tại chỗ hay chương trình mùa hè (summer programs) hay các khóa học trực tuyến và các khóa học mở ra quanh năm phục vụ các nhu cầu bồi dưỡng khác nhau. Các chương trình bồi dưỡng được thực hiện chủ yếu để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và được tiến hành quanh năm, dưới nhiều hình thức phù hợp với nhu cầu và điều kiện của người học. Maassen et al (2012) [43], cho rằng nhiệm vụ trọng tâm của phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên là giúp các giáo viên chia sẻ và tiếp nhận kiến thức mới và kết hợp các vai trò của họ như là nhà nghiên cứu, viết bài và công bố các công trình nghiên cứu khoa học. Việc bồi dưỡng giáo viên phải diễn ra phù hợp với các yêu cầu thay đổi trong giáo dục phổ thông và trong lĩnh vực QLGD như các mô hình quản trị trường học mới và ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa.
Những tác động đó ảnh hưởng đến từng giáo viên và làm thay đổi bản chất công việc của các giáo viên như họ quan tâm hơn đến các nghiên cứu quốc tế và tham gia nhiều hơn vào các mạng giáo viên quốc tế. Việc cung cấp mẫu, tư liệu bài giảng cho các giáo viên mới, các chỉ dẫn tìm nhà ở, tìm kiếm các thông tin liên quan đến sinh viên mình giảng dạy trên website của nhà trường (địa chỉ liên hệ, mẫu đánh giá sinh viên) cũng được chú trọng. Đối với giáo viên đã có kinh nghiệm thì bồi dưỡng thông qua mạng lưới tư vấn chuyên môn, các hội nghị chuyên môn, nghiệp vụ và cách thức 7 trình bày hồ sơ cá nhân. Hình thức bồi dưỡng đa dạng: là các chương trình chính thức, chương trình ngoại khóa, các hội thảo, semina khoa học, chia sẻ kiến thức trong nhóm giáo viên, mạng lưới chuyên môn, cung cấp dịch vụ tư vấn cách soạn bài, tiến hành bài giảng trên lớp, cách đánh giá học sinh, hỗ trợ thông qua dự giờ, tư vấn (The Center for Teaching shares, 2014).
Sherry Fox (2011) [41] quan niệm năng lực như là một tổ hợp kiến thức, kĩ năng và hành vi mà một người sử dụng để nâng cao chất lượng thực hiện công việc. Sherry Fox cho rằng cần sử dụng tiếp cận quản lí năng lực trong công tác bồi dưỡng giáo viên vì tiếp cận này cung cấp một lộ trình và các công cụ phát triển năng lực cho giáo viên. Các nghiên cứu cho thấy nội dung quản lý bồi dưỡng CMNV cho GV THCS theo chuẩn nghề nghiệp bao gồm một chuỗi các hoạt động từ khâu: (1) khảo sát xác định các năng lực (kiến thức và kĩ năng) chuyên môn, nghiệp vụ họ cần có để phát triển các năng lực cho học sinh một cách hiệu quả. (2) Những năng lực họ còn thiếu cần được bồi dưỡng; (3) Hình thức và phương pháp bồi dưỡng để phát triển các năng lực này ở giáo viên.
(4) Chương trình bồi dưỡng cần hướng đến phát triển các năng lực này và có các phương pháp đánh giá hiệu quả của chương trình rằng chương trình bồi dưỡng đã cung cấp các kiến thức, kĩ năng để giáo viên giảng dạy phát triển năng lực cho học sinh. (5) Đồng thời, yêu cầu mỗi GV THCS và cả ĐNGV cần thích ứng nhanh và đón đầu sự đổi mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Nghiên cứu trong nước Tiếp cận theo quan điểm của UNESCO, tác giả Trương Đại Đức cho rằng: Bồi dưỡng là qúa trình tác động vào đối tượng được bồi dưỡng để họ nâng cao năng lực chuyên môn. Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức, kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp; tác giả đã chỉ ra có 3 loại hình bồi dưỡng: Bồi dưỡng chuẩn hóa; Bồi dưỡng thường xuyên và nâng cao; Tự bồi dưỡng [16].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1998) với “lý thuyết về công nghệ dạy học hiện đại,” ông cho rằng bồi dưỡng cho GV để giúp họ làm chủ công nghệ dạy học hiện đại với hai nhiệm vụ cơ bản đồng thời: (i) nghiên cứu để chuyển hóa vào thực tiễn dạy học , (ii) đồng thời, vận dụng thực tiễn, sử dụng tối đa phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học theo lối mới. Tác giả đề cao vai trò lao động sư phạm đặc thù của người GV 8 THCS, vận dụng quá trình “sự vật chất hóa”, “sự vật thể hóa” để bồi dưỡng phát triển năng lực của người GV [31] Nghiên cứu của tác giả Đặng Bá Lãm về những yêu cầu đặt ra của công tác bồi dưỡng GV phổ thông trước bối cảnh toàn cầu hóa nhân lực trong giáo dục là củng cố phát triển “ngôi nhà nhân cách” của nhà giáo. Mỗi nhân cách là một viên gạch dùng vào việc dựng nên ngôi nhà. Từ tầng thấp nhất đến tầng cao, tầng nào cũng phải được xây dựng nên bởi những nhân cách có tài, có đức [26].
Tiếp cận năng lực nhà giáo mẫu mực thế kỷ XXI, tác giả Trần Khánh Đức, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra mô hình tổng thể của người GV trong nền GDPT hiện đại - sự nỗi bật của các phẩm chất và kỹ năng mềm, điều đó tùy thuộc những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực của đội ngũ. Nhằm hiện thực hóa năng lực GV THCS nhóm các tác giả Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo, đề xuất mô hình (khung) 5 nhóm năng lực gồm: (1) năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; (2) năng lực dạy học; (3) năng lực giáo dục; (4) năng lực hợp tác trong dạy học và NCKH; (5) năng lực phát triển nghiệp vụ sư phạm. Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến (2013) trong cuốn sách “đổi mới đào tạo giáo viên trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam” [35, tr,160-169] với những nghiên cứu việc đào tạo GV đầu tiên ở Pháp vào năm 1685, khuyến nghị về vị thế nhà giáo của ILO/UNESCO (1966), khung năng lực GV ở Liên minh châu Âu, một số nước trong khu vực và kết quả đánh giá hệ thống GDPT nước ta, đưa ra nhận định “phần đông trong số này đang thiếu và chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng giảng dạy”. Vì thế, cần tiến tới ban hành chuẩn GV THCS làm cơ sở phát triển năng lực nghề nghiệp của họ.