Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch của Uỷ ban nhân dân phường trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch trên địa bàn phường Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH 1.1 Khái niệm về hộ tịch và pháp luật về quản lý hộ tịch 1.1 Khái niệm về hộ tịch 1.1 Khía cạnh ngôn ngữ Hộ tịch là một từ ngoại lai được du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt nhưng rất khó xác định được thời điểm xuất hiện. Theo “Đại Nam Quốc âm tự vị”, cuốn từ điển của tác giả Huỳnh Tịnh Paulus Của 1 được biên soạn từ năm 1895 với phương pháp “tham dụng chữ nho và lấy 24 chữ cái phương tây làm chữ bộ” thì trong chữ bộ chữ “Hộ” chưa có từ “hộ tịch”. Xét từ góc độ ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ , được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính.
Xét về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng. Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu từng từ đơn này. Theo đó từ “Hộ” khi sử dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân cư” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau”. Tương tự từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”.
Tuy nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này thành danh từ “Hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặc ngôn ngữ và được sử dụng với thuộc tính kết hợp hạn chế về việc sử dụng từ ngữ và khả năng tổ hợp từ ngữ. Chính do tính chất đặc biệt ấy nên khảo cứu qua các từ điển tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch” rất khác nhau [7, tr. Các từ điển Hán – Việt của nhiều tác giả khác nhau (Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Bửu Kế, Nguyễn Lân, Hoàng Thúc Trâm ) đều có sự tương đồng và những khía cạnh đặc biệt trong cách giải nghĩa từ “hộ tịch”. Sau đây là một số cách giải nghĩa: “Hộ tịch: quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương”.
9 “Hộ tịch: sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường”. “Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”. “Hộ tịch: quyển sổ của Chính Phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người”. Bên cạnh đó, một số từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn, ví dụ: “Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng kí cư dân trong địa phương mình theo từng hộ”; “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật”.
“Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần”. Như vậy, nghĩa của từ “hộ tịch” xét về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm hộ tịch và hộ khẩu. Điều này phản ánh một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu” trong nhận thức xã hội là khá phổ biến [7, tr.2 ề hía cạnh pháp lý Xét từ khía cạnh là một khái niệm pháp lý, khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt. Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn. Mặc dù vậy, do khái niệm “hộ tịch” có chứa đựng yếu tố truyền thống, lịch sử và đã là khái niệm có tính chất phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hóa thay thế không 10 được lựa chọn, thay vào đó các nhà xây dựng pháp luật đã sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Tuy nhiên chỉ có thể xây dựng một định nghĩa mới về “hộ tịch” và định nghĩa này chỉ được chấp nhận khi nó tiếp thu, phản ánh được những khía cạnh truyền thống, đồng thời tiếp cận với những quan điểm xu hướng của khoa học pháp lý hiện đại. Theo quy định tại Điều 1 Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 27/12/2005 về đăng ký hộ tịch thì “hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Đi kèm với khái niệm “hộ tịch” Nghị định 158/2005/NĐ-CP còn nêu ra khái niệm “đăng ký hộ tịch” được định nghĩa như sau: “Đăng ký hộ tịch là hành vi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: xác nhận các sự kiện sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi” Khái niệm “hộ tịch” trong Luật Hộ tịch 2014 ngày 20/11/2014 là những sự kiện nhằm xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết đi: 1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: a) Khai sinh; b) Kết hôn; c) Giám hộ; d) Nhận cha, mẹ, con; đ) Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; e) Khai tử. Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: a) Thay đổi quốc tịch; 11 b) Xác định cha, mẹ, con; c) Xác định lại giới tính; d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; e) Công nhận giám hộ; g) Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.3 Phân biệt “quản lý hộ tịch” và “quản lý hộ hẩu” Việc làm rõ các dấu hiệu phân biệt giữa quản lý hộ tịch và quản lý hộ khẩu là rất cần thiết cho ý nghĩa thiết thực. Thực tế cho thấy, hiện nay sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này cũng như sự nhầm lẫn về hoạt động quản lý hộ tịch và hoạt động quản lý hộ khẩu trong nhận thức xã hội còn khá phổ biến. Sổ hộ khẩu là văn bản pháp lý, thủ tục hành chính quan trọng. Tuy quen thuộc nhưng nhiều người lại không nắm rõ được chức năng và tầm quan trọng của quyển sổ nhỏ bé này.
Việc đô thị hóa, sự phát triển quá nhanh của các khu công nghiệp khiến lượng người di cư về các thành phố lớn, những đô thị sầm uất với mục đích học tập, tìm việc, xây dựng sự nghiệp và sinh sống ngày càng nhiều. Chính vì vậy, để kiểm soát an ninh và quản lý người dân về kinh tế đòi hỏi có một công cụ tối ưu. Đó là lí do sổ hộ khẩu ra đời. Quản lý hộ tịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi và lưu lại các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân.
Quản lý hộ tịch là để tạo ra hệ thống pháp luật được sử dụng để thiết lập và bảo vệ các quyền dân sự của cá nhân. Ngoài ra, còn tạo ra một nguồn dữ liệu 12 cho việc biên soạn các số liệu thống kê quan trọng, phục vụ cho hoạt động thống kê dân cư của nhà nước. Mục đích quản lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức để từ đó góp phần tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình. Ví dụ: trong đời sống hằng ngày, khi phải giải quyết các việc về hộ tịch, người dân thường hay gọi cán bộ tư pháp có nhiệm vụ giải quyết là “Công an hộ tịch”.
Theo quy định tại Điều 18 Luật Cư trú năm 2006 có quy định: “Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ”. Khoản 1 Điều 24 Luật cư trú tiếp tục quy định như sau: “Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân”. Như vậy, hoạt động quản lý hộ tịch và quản lý hộ khẩu đều nằm trong phạm trù quản lý dân cư. Tuy nhiên, hai khái niệm này được phân biệt ở những điểm cơ bản sau: Đối tƣợng quản lý: + Đối tượng của quản lý hộ khẩu chỉ là đặc điểm về nơi cư trú của cá nhân.