phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Phần nội dung luận văn đƣợc trình bày thành 3 chƣơng, 8 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan và việc sử dụng hàng rào phi thuế quan trong thƣơng mại quốc tế 1.
Khái niệm,đặc điểm hàng rào phi thuế quan 1. Khái niệm hàng rào phi thuế quan Trong thƣơng mạiquốc tế, thuật ngữ hàng rào (rào cản) đối với thƣơng mại đƣợc đề cập chính thức trong Hiệp định về hàng rào và kỹ thuật trong thƣơng mại (TBT) của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO). Tuy nhiên, trong Hiệp định TBT, thuật ngữ này cũng chƣa đƣợc định danh mà mới chỉ đƣợc thừa nhận nhƣ một thỏa thuận: Không một nƣớc nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo cho chất lƣợng hàng hóa xuất khẩu của mình hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con ngƣời, động vật và thực vật, bảo vệ môi trƣờng hoặc ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở một mức độ nƣớc đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng, các biện pháp này không đƣợc tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tùy tiện hoặc không thể biện minh đƣợc giữa các nƣớc, trong các điều kiện giống nhau hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thƣơng mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với quy định của Hiệp định này. Nhƣ vậy, có thể hiểu hàng rào trong thƣơng mại quốc tế là bất kỳ biện pháp hay hành động nào của các quốc gia nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của quốc gia mình mà gây cản trở đối với hoạt động thƣơng mại quốc tế.
Hiện nay, các nƣớc đang sử dụng rất nhiều công cụ làm rào cản để bảo vệ lợi ích của quốc gia trong hoạt động ngoại thƣơng, nhƣng tựu chung lại có hai nhóm công cụ chính là: Hàng rào thuế quan (Tariff Barriers - TB) và hàng rào phi thuế quan (Non-Tariff Barriers, NTB). Hàng rào thuế quan là loại rào 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cản phổ biến nhất và mang tính chất truyền thống trong thƣơng mại quốc tế, đƣợc xác định và phân loại trên cơ sở các mức thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu.Do loại hàng rào thuế quan có bản chất mâu thuẫn với tiến trình tự do hóa thƣơng mại, nên loại rào cản này có xu hƣớng ngày càng hạn chế trong quan hệ thƣơng mại. Vì vậy, tại các vòng đàm phán đa phƣơng và song phƣơng, chủ đề đƣợc các quốc gia đặt lên hàng đầu và cũng là tiêu chí để các bên có thể thống nhất với nhau là cắt, giảm dần và loại bỏ các loại hàng rào thuế quan. Hàng rào phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, ví dụ nhƣ các biện pháp cấm nhập hoặc xuất khẩu; hạn ngạch về số lƣợng, giá trị đƣợc phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định; hàng rào kỹ thuật trong thƣơng mại (TBT); các biện pháp vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật (SPS); các quy định về sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa, bảo vệ môi trƣờng; các quy định chuyên ngành về điều kiện sản xuất, thử nghiệm, lƣu thông và phân phối các sản phẩm… Trên thực tế hoạt động thƣơng mại quốc tế, hàng rào phi thuế quan rất đa dạng và phức tạp nên rất khó để đƣa ra một định nghĩa cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ.
Dođó, cho đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa chính thức về hàng rào phi thuế quan. Hiện nay việc định nghĩa cũng nhƣ xác định phạm vi của hàng rào phi thuế quan đều dựa trên các quan điểm, mục đích riêng của các nhà nghiên cứu, các quốc gia, và các tổ chức quốc tế. Về mặt lý thuyết, rào cản phi thuế quan là các rào cản ngoài thuế làm ảnh hƣởng đến lƣu chuyển hàng hoá quốc tế. Trong thời gian gần đây, phạm vi của các hàng rào phi thuế quan mà các quốc gia áp dụng ngày càng đƣợc mở rộng, những hàng rào phi thuế quan điển hình đƣợc áp dụng trong bảo hộ sản xuất nội địa là cấm nhập khẩu và hạn chế định lƣợng; các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật; chống bán phá giá…do đó tiếp cận dƣới các phƣơng diện, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm vi khác nhau, hiện nay các học giả, các tổ chức quốc tế đã đƣa ra định nghĩa khác nhau về hàng rào phi thuế quan, điển hình nhƣ: Nghiên cứu của Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dƣơng (PECC) mô tả các rào cản phi thuế quan từ giác độ ảnh hƣởng của nó tới nền kinh tế trong nƣớc “rào cản phi thuế quan là các công cụ phi thuế quan của các quốc gia can thiệp vào thương mại quốc tế, nhằm bảo hộ sản xuất nội địa”[39, tr.
Một cách tổng quát hơn, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm 1997 đã định nghĩa: "Rào cản phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế được các quốc gia sử dụng nhằm hạn chế nhập khẩu” [39, tr 155]. Cách đề cập này chủ yếu dựa trên phạm vi áp dụng (biên giới) của các biện pháp phi thuế quan. Trên quan điểm lợi ích chung của nền kinh tế thế giới, Baldwin (1970) đã đƣa ra một định nghĩa về hàng rào phi thuế quan là: “Một sự biến dạng phi thuế quan là bất kì một biện pháp (thuộc khu vực nhà nước hay tư nhân) nào khiến các hàng hóa và dịch vụ trong mua bán quốc tế hoặc mọi nguồn lực dành cho việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đó, sẽ được phân bổ theo cách như thế nào đó nhằm giảm thu nhập tiềm năng thực sự của thế giới”. [39, tr 154] Tại Việt Nam trong quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế, pháp luật thƣờng sử dụng khái niệm về rào cản phi thuế quan của Bộ Thƣơng mại nhƣ sau: ngoài thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hƣởng đến mức độ và phƣơng hƣớng nhập khẩu đƣợc gọi là các rào cản phi thuế quan.
Mỗi hàng rào phi thuế quan có thể có một hoặc nhiều thuộc tính nhƣ áp dụng tại biên giới hay nội địa, đƣợc duy trì một cách chủ động hay bị động, phù hợp hoặc không phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm bảo hộ hay 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không bảo hộ. Trên trang Web của mình,Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đƣa ra khái niệm về hàng rào phi thuế quan nhƣ “Là những biện pháp nằm ngoài thuế quan, có liên quan hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến sự luân chuyển hàng hoá giữa các nước, với mục tiêu cản trở đối với hàng hóa nhập khẩu mà không dựa trên cơ sở pháp lý khoa học hay bình đẳng”. [48] Cũng trên Interrnet, Tạp chí Công nghiệpViệt Nam cho rằng:“Rào cản phi thuế quan là những quy định ngoài thuế quan, hay một chính sách phân biệt nào đó được một quốc gia (hay vùng lãnh thổ) áp dụng với mục đích hạn chế thương mại quốc tế, tiến tới ngăn cản việc hàng hóa nước khác thâm nhập vào thị trường trong nước. Các thủ tục này sẽ tạo thuận lợi cho hàng hóa trong nước giống như một hình thức bảo hộ” [47].Những định nghĩa này đã nhấn mạnh tới mục đích phân biệt đối xử nhằm bảo hộ sản xuất trong nƣớc của các rào cản phi thuế quan.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các định nghĩa về hàng rào phi thuế quan trên, tác giả quan niệm: “Hàng rào phi thuế quan là rào cản thương mại không dùng thuế quan mà sử dụng các quy định mang tính hành chính và các quy định mang tính kỹ thuật để chống lại sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài, bảo vệ người tiêu dùng và nền sản xuất trong nước”. Với góc nhìn nhƣ vậy, có thể thấy hàng rào phi thuế quan bao gồm hai bộ phận cơ bản là: Các rào cản mang tính hành chính (hàng rào hành chính) và Các rào cản mang tính kỹ thuật (hàng rào kỹ thuật). Thứ nhất, hàng rào hành chính là các quy định có tính chất mệnh lệnh hành chính nhà nƣớc nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu. Hàng rào hành chính bao gồm các quy định pháp luật về cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, giấy phép, hạn ngạch (Quota), hạn chế xuất khẩu tự nguyện, tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc.
Cụ thể: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Cấm nhập khẩu hoặc cấm xuất khẩu là những quy định pháp lý mà một quốc gia không cho phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu những hàng hóa nhất định. Đối với những hàng hóa có ảnh hƣởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe con ngƣời, an ninh, quốc phòng và môi trƣờng thì cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu là cần thiết. Tuy nhiên, đối với những hàng hóa thông thƣờng nếu quy định cấm nhập khẩu hoặc cấm xuất khẩu thì đây chính là biện pháp hành chính tạo ra hàng rào ngăn cản tự do thƣơng mại quốc tế. - Giấy phép nhập khẩu là một trong những cách thức tạo ra rào cản đối với tự do hóa thƣơng mại bằng cách yêu cầu nhà nhập khẩu phải đệ đơn để đƣợc cấp giấy phép nhập khẩu cho những loại hàng hóa nhất định.
Trong thực tiễn, các thủ tục hành chính này đã tạo ra những rào cản không nhỏ đối với hàng hóa nhập khẩu. - Hạn ngạch (Quota) là quy định lƣợng tối đa theo giá trị hoặc theo khối lƣợng đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong một thời kỳ nhất định. Hạn ngạch có thể quy định cho từng nhà nhập khẩu/xuất khẩu hoặc quy định cho từng quốc gia có hàng hóa xuất khẩu sau đó quốc gia này lại phân bổ hạn ngạch cho các nhà xuất khẩu của quốc gia đó. - Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là thỏa thuận giữa nƣớc xuất khẩu và nƣớc nhập khẩu về giới hạn tối đa theo giá trị hoặc theo khối lƣợng của một mặt hàng nào đó xuất khẩu từ một nƣớc vào nƣớc kia.
Cách thức này gần giống nhƣ hạn ngạch nhƣng khác ở chỗ, trong khi hạn ngạch là quy định đơn phƣơng của một quốc gia thì hạn chế xuất khẩu tự nguyện là sản phẩm của một hiệp định song phƣơng. - Tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc là một cách thức ngăn cản hàng hóa nhập khẩu, theo đó một quốc gia quy định một mặt hàng nào đó phải đạt một tỷ lệ nội địa hóa mới đƣợc tiêu thụ tại quốc gia đó. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.