Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non mầm non huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.
Các nghiên cứu ngoài nước GDMN là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người. Việc thiếu quan tâm đến GDMN chính là sự bỏ lỡ cơ hội cải thiện triển vọng cho trẻ em. Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định GDMN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Các nước có nền kinh tế phát triển luôn ưu tiên cho phát triển GDMN.
Ngành giáo dục mầm non là công việc chăm sóc, dạy dỗ trẻ dưới 6 tuổi, là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình học tập tiên tiến sẽ là nền tảng, cơ sở sau này cho sự phát triển của trẻ. Do vậy, việc phát triển giáo dục mầm non là yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia. Chính vì vậy, GDMN ở các nước luôn được sự quan tâm của toàn bộ xã hội.
Ở Phần Lan, Chính phủ nước này đã dùng 1/3 tổng ngân sách chi cho giáo dục để đầu tư cho GDMN. Các loại hình giáo dục ở nước này phát triển đa dạng. Ở đó, khi một trường MN được mở ra phải có sự khẳng định chặt chẽ của nhà nước về điều kiện CSVC, chất lượng đội ngũ giáo viên,… Ở Pháp, người ta coi việc đưa trẻ đến trường MN là việc bắt buộc đối với các bậc phụ huynh. Chính vì vậy, trẻ em ở độ tuổi MN bắt buộc đăng ký để được chăm sóc, giáo dục.
Hàng năm, Chính phủ Pháp đều xây dựng đề án để phát triển GDMN ở nước này. Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời'' và thực hiện chính sách: trường mầm non là trường tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền. Hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Luật Giáo dục Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Theo ông Sheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng Giáo dục UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình dương, GDMN thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũng như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của trẻ, chính những kỹ năng mà đứa trẻ tiếp thu được 7 qua các chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho hoạt động học tập sau này của trẻ, bởi đây là giai đoạn phát triển đặc biệt quan trọng của bộ não trẻ. Các nghiên cứu trong nước Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng GDMN. Trong buổi lễ giới thiệu và giao nhiệm vụ cho tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lưu ý: “So với các bậc học khác, đến nay chúng ta chưa lo được nhiều cho GDMN. Đây là một mảng còn yếu của giáo dục Việt Nam mà Bộ trưởng và toàn ngành cần cố gắng khắc phục trong thời gian ngắn nhất”.
Giai đoạn trẻ em từ 0- 6 tuổi có vị trí cực kỳ quan trọng trong việc hình thành nhân cách trẻ. Do vậy để đảm bảo sự nghiệp GDMN, vừa có thể mở rộng được quy mô, vừa có thể nâng cao chất lượng theo mục tiêu đào tạo của bậc học, vấn đề có ý nghĩa quan trọng đặt ra là phải phát triển đồng bộ, mạng lưới trường lớp và tăng cường cơ sở vật chất trường học, nâng cao chất lượng đội ngũ. Đó là điều kiện thiết yếu ban đầu cho hoạt động chăm sóc, giáo dục mầm non. Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về chuyên ngành QLGD, trong đó có một số đề tài nghiên cứu về GDMN và quản lý GDMN trên nhiều lĩnh vực, một số công trình được đề cập như: Hướng nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng GVMN có: “ Giải pháp bồi dưỡng chuẩn hóa GV mẫu giáo các tỉnh Duyên hải miền trung”, của tác giả Huy Thông, năm 1999.
Nguyễn Thị Hoài An: "Biện pháp quản lý cơ sở mầm non Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ". Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, năm 1999. Nguyễn Thị Thường: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”. Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, năm 2010.
Nguyễn Thị Đào: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An”. Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, năm 2012. Nguyễn Thị Thu An :“ Quản lý họat động dạy học theo chương trình GDMN ở các trường MN công lập quận Cầu Giấy, Hà Nội”, luận văn Thạc sĩ QLGD, năm 2016. Ngoài ra Việt Nam cũng lựa chọn vận dụng các nghiên cứu nước ngoài nhằm phát triển giáo dục MN trong tình hình mới như: Theo Perter Drucker (1999) trong tác phẩm “Những thách thức quản lý đối với thế kỷ 21” đưa ra luận cứ: Quản lý là một thực thể, một cơ quan chức năng cụ thể và 8 phân biệt rõ ràng của bất kỳ tổ chức nào, dù đó là đơn vị sản xuất, kinh doanh, cơ quan chính phủ, trường học, bệnh viện hay nhà hát…Theo Drucker phải thực hành những nguyên tắc sau để đảm bảo đúng tinh thần xuyên suốt của quản lý: phải có yêu cầu cao về kết quả công việc, không chấp nhận kết quả kém hay tầm thường, chế độ phải dựa vào kết quả công việc [10].
Nhà quản lý hành chính người Pháp là H. Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó. Fayon: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [15]. Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm.
Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [15. Theo Paul Hersey và KenBlanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì: Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức. Những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ, bởi tuy trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu học tập, não bộ đã được lập trình để tiếp nhận các thông tin cảm quan và từ đó sử dụng nó hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới bên ngoài.
Tuy nhiên, hướng học tập của trẻ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như thể chất, nhận thức và tình cảm xã hội. Việc được hưởng sự chăm sóc và giáo dục tốt nhất từ lứa tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, cụ thể như sau: - Theo F.Taylo (1856 – 1915) Người theo trường phái quản lý theo kiểu khoa học: “Quản lý là cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc và quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.[26] - Theo quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế.
bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều 9 kiện cho sự phát triển của đối tượng”[29]. - “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [29]. Nguyễn Gia Quý cho rằng “Quản lý GD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động GD tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những qui luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân”. Những định nghĩa trên khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: + Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các hoạt động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý.
Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là nhiều lần. + Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. + Chủ thể phải thực hành việc tác động. + Chủ thể có thể là một người, nhiều người, đối tượng cũng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội).
Như vậy, có thể khái quát: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra.