CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Hiện nay với quy mô phát triển của nền kinh tế thị trường và hệ thống giáo dục định hướng thị trường ngày càng được mở rộng trên quy mô toàn cầu. Nền giáo dục của các nước vừa chịu sự quản lý và điều tiết của nhà nước vừa chịu sự tác động của thị trường với các quy luật cạnh tranh cung cầu và giá cả.
Chính điều này, đã tạo nên sự đa dạng và tính phức tạp của nền giáo dục các quốc gia. Thực tế đã chỉ ra rằng mọi đứa trẻ cần được lên kế hoạch để giáo dục về thẩm mỹ, đặc biệt trong thời đại hiện nay nhiều trường học chỉ trú trọng vào các kiến thức, kỹ năng mà quên đi những cảm nhận, xúc cảm của trẻ. Trẻ cần được giáo dục, trải nghiệm và thấy được cả cái đẹp bên trong và bên ngoài bản thân nhằm có một cuộc sống hài hòa, qua đó giúp ta nhìn thấy được tầm quan trọng của giáo dục thẩm mỹ. Jalongo và Laurie Nicholson Stamp đã xuất bản cuốn “ Nghệ thuật trong đời sống của trẻ em: Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non” (1997).
Mục đích của cuốn sách này là hợp nhất nghệ thuật thành một khái niệm toàn diện về giáo dục thẩm mỹ cho trẻ nhỏ. Thuyết phục giáo viên rằng nghệ thuật dành cho tất cả mọi người và cần thiết cho chương trình giảng dạy hàng ngày; để cho giáo viên thấy nghệ thuật xây dựng sự quan tâm, động lực và học tập của trẻ em trong tất cả các môn học; để chứng minh làm thế nào giáo viên có thể rút ra một loạt các tài nguyên nghệ thuật để làm phong phú chương trình giảng dạy của họ; và để giải quyết sự phù hợp về mặt phát triển của các hoạt động nghệ thuật và cho thấy cách họ hỗ trợ các mục tiêu của giáo dục đa văn hóa. Cuốn sách này cung cấp nhiều ví dụ về các giáo viên đã thiết kế một chương trình giảng dạy dựa trên nghệ thuật và đưa ra những 6 gợi ý thiết thực, cụ thể về việc đánh giá sự phát triển của trẻ em trong các lĩnh vực chính của nghệ thuật: âm nhạc và chuyển động, nghệ thuật và thủ công, chơi và thể hiện. Năm 2014, Thomas Steinforth, Munich, có công trình viết về “ Quyền học tập thẩm mỹ và cuộc sống tốt đẹp”.
Trong đó nội dung khẳng định rằng: Kinh nghiệm thẩm mỹ - được bắt đầu bởi giáo dục thẩm mỹ, là điều rất quan trọng, bởi vì chúng là một điều kiện cần thiết cho các mối quan hệ bản thân và thế giới, cho tự do và vì điều đó cho một cuộc sống tốt đẹp. Giáo dục thẩm mỹ rất quan trọng đối với tất cả trẻ em, đối với tuổi thơ và cho cuộc sống trưởng thành của họ. Ở Việt Nam Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý đào tạo nói chung và quản lý dạy học bậc mầm non nói riêng. Cụ thể: Tác giả Phạm Thị Hòa xuất bản Giáo trình phương pháp giáo dục âm nhạc trong trường mầm non năm 2002.
Trong giáo trình đó đã nêu ra một số vấn đề chung về giáo dục âm nhạc trong trường mầm non với những khái niệm cơ bản, những đặc điểm của giáo dục âm nhạc, các phương pháp dạy hoạt động âm nhạc được tác giả đưa ra và so sánh qua đó có những gợi ý phù hợp đối với từng cơ sở giáo dục; Các hình thức tổ chức hoạt động âm nhạc và giáo án cũng được tác giả đề cập và hướng dẫn khá kỹ càng. Ở trường trẻ được chơi, ăn, học, nghỉ,.và âm nhạc gắn liền với mọi thời điểm sinh hoạt của trẻ. Giờ đón trẻ thì mở nhạc cho trẻ nghe lúc trẻ đến trường, nhạc cho trẻ tập thể dục sáng theo nhịp điệu. Trong hoạt động âm nhạc hay là tích hợp trong các hoạt động học khác là rất cần thiết, nó giúp cho tiết học không bị khô cứng, khiến trẻ nhàm chán, mất tâp trung.
Sau giờ học buổi sáng thì âm nhạc được sử dụng làm nền cho các hoạt động ngoài trời, hoạt động góc, chuẩn bị cho giờ ăn, giờ ngủ,. Đặc biệt trong các ngày lễ hội thì âm nhạc càng quan trọng, nó không thể thiếu đi. 7 Tác giả Nguyễn Quốc Toản (2012) với tác phẩm Giáo trình phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non, trường Đại học Huế, NXB Đại học sư phạm. Ở cuốn sách này, tác giả đã hệ thống hóa được các lý luận liên quan đến giáo dục mầm non, quá trình tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non và các nhân tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện quá trình này cũng được tác giả quan tâm phân tích khá chi tiết.
Hoạt động tạo hình gắn liền hoạt động với con người, ngay từ khi con người chưa có ngôn ngữ họ đã sử dụng hình vẽ như một phương tiện để giao tiếp và để truyền lại các kinh nghiệm sản xuất. Điều đó chứng tỏ hoạt động tạo hình là một trong những nhu cầu rất cần thiết của đời sống con người. Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động của con người để tạo ra các sản phẩm có hình thể và màu sắc đẹp, đem lại khoái cảm thẩm mĩ cho người xem – nhận ra cái đẹp và cảm xúc trước cái đẹp. Ví dụ: Bức tranh, pho tượng hoặc mọi thứ trong cuộc sống thường ngày, như nhà cửa, công viên, vải vóc, quần áo, ấm, bát, lo hoa, giường tủ, giày dép.
Tác giả Hoàng Công Dụng trong Modul MN 25 Ứng dụng phương pháp dậy học tích cực trong lĩnh vực phát triển thẩm mỹ, đã đưa ra các hoạt động nhằm giúp giáo viên tìm hiểu các phương pháp dạy học tích cực. Ứng dụng phương pháp dạy học tích cực trong lĩnh vực phát triển thẩm mĩ, cung cấp một số kiến thức, phương pháp, câu hỏi gợi mở và đánh giá nhằm giúp người học có thể tự tìm hiểu, vận dụng thực hành vào các hoạt động giáo dục thẫm mĩ. Tác giả có viết “Modul không nhằm mục đích đưa ra những điều mới, lạ mà chủ yếu hệ thống hóa lại những kiến thức cơ bản về phương pháp dạy học tích cực, được sử dụng trong lĩnh vực phát triển thẩm mỹ, cung cấp cho người học những điểm căn bản nhất, phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp giáo dục, đồng thời cũng định hướng cho giáo viên, biết cách chủ động, sáng tạo tổ chức các hoạt động giáo dục trong lĩnh vực phát triển thẩm mỹ cho trẻ của mình theo kế hoạch chung của toàn trường. 8 Đã có nhiều đề tài luận văn, cao học nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ, các hoạt động tạo hình âm nhạc cho trẻ mầm non như: Tác giả Trần Trung Sơn đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng công tác giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non Cẩm Sơn – Anh Sơn – Nghệ An” năm 2006.
Một tác giả khác là Lại Kim Cúc đã nghiên cứu đề tài “Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động ca hát ở trường mầm non” năm 2014. Tác giả Hồ Hoàng Yến đã đưa ra các biện pháp để tăng cường “Sự tìm hiểu các mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ mầm non 5-6 tuổi trong hoạt động vẽ ở một số trường mầm non tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” năm 2011. Tôi nhận thấy, những bài viết và các công trình khoa học trên chủ yếu tập trung nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục, quản lý đào tạo và quản lý dạy học tại các cơ sở giáo dục mầm non. Hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi 5-6 tuổi.
Vì vậy, để vấn đề này được quan tâm một cách toàn diện, tôi chọn đề tài luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình ” để tìm hiểu thực trạng nhằm đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ phù hợp với tình hình thực tế của các trường trên địa bàn. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về “quản lý”. Có thể nêu một số định nghĩa như sau: Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, phương pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [.
9 Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục đích tổ chức” [Tr. Theo tác giả Vũ Dũng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó ” [. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì cho rằng: “Quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (Người quản lý) đến khách thể quản lý (Người bị quản lý) – trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Hay nói rõ hơn thì “Quản lý là một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) của kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [.
Các định nghĩa trên tuy nói thì khác nhau, nhưng có một số điểm chung trong nhận thức về quản lý như sau: Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (Chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (Khách thể quản lý) nhằm đạt mục đích chung. Bản chất đó được tổng hợp lại thể hiện sơ đồ sau: Công cụ quản lý Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Mục tiêu quản lý Phương pháp quản lý llýlý Sơ đồ 1.1: Mô hình hoạt động quản lý 10 Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý. Nếu không xác định được các chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý.